Tác động của Thương mại điện tử đến hoạt động kiểm toán

Cuộc cách mạng công nghệ thông tin (CNTT) cuối thế kỷ 20 đã dẫn đến sự xuất hiện Internet và sự bùng nổ của Thương mại điện tử (TMĐT). TMĐT đang cách mạng hoá các phương thức kinh doanh, làm thay đổi hình thức, nội dung mọi hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội của loài người.

TMĐT cũng làm thay đổi các giao dịch kinh doanh và các bằng chứng sẵn có của các giao dịch kinh doanh dẫn tới sự thay đổi trong các quy trình kinh doanh và kế toán, do đó ảnh hưởng đến quy trình, các kỹ thuật và phương pháp kiểm toán. Bài viết này sẽ phân tích những ảnh hưởng của TMĐT đến hoạt động kiểm toán, chủ yếu là hoạt động kiểm toán độc lập và đưa ra những lưu ý đối với hoạt động kiểm toán trong điều kiện TMĐT được sử dụng phổ biến.
1.      Những tác động của TMĐT đến hoạt động kiểm toán
Sự phát triển của TMĐT sẽ góp phần hình thành nên những tổ chức, doanh nghiệp hoạt động “không cần giấy tờ” (paperless) có khả năng và tốc độ giao dịch lớn, thay đổi hình thức thực hiện các giao dịch truyền thống trước đây và do đó sẽ có tác động nhiều đến hoạt động kiểm toán thể hiện trên những điểm sau:
a)     Thay đổi nội dung trong khâu lập kế hoạch kiểm toán thông qua việc thay đổi sự nhận thức về đối tượng kiểm toán
Trong khâu này, kiểm toán viên sẽ phải tiếp xúc với tổ chức, doanh nghiệp được kiểm toán để tìm hiểu, thu thập những thông tin cần thiết về các hoạt động kinh doanh như quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh, tổ chức sản xuất và quy trình sản xuất kinh doanh, tổ chức bộ máy và công tác tài chính kế toán…Đặc biệt, doanh nghiệp kiểm toán phải đánh giá được mức độ áp dụng CNTT và TMĐT của doanh nghiệp để có thể cử các kiểm toán viên có đủ trình độ và năng lực không chỉ về kiểm toán mà còn về TMĐT để có thể thực hiện được cuộc kiểm toán.
b)     Sự thay đổi về mức độ và tính chất của rủi ro kiểm toán:
Rủi ro kiểm toán được hiểu là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những ý kiến nhận xét không thích hợp về các báo cáo tài chính của đơn vị. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần cho một báo cáo tài chính khi báo cáo đó vẫn còn chứa đựng những sai phạm trọng yếu.
Rủi ro kiểm toán được cấu thành bởi 3 bộ phận: Rủi ro tiềm tàng, Rủi ro kiểm soát và Rủi ro phát hiện. Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được.
Trách nhiệm của kiểm toán là phải giảm thiểu rủi ro kiểm toán thấp đến mức có thể chấp nhận được để nâng cao độ tin cậy của các thông tin tài chính mà doanh nghiệp cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp. Rủi ro kiểm toán sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ và tính chất của các rủi ro bộ phận. Khi một doanh nghiệp tham gia vào TMĐT thì tuỳ thuộc vào mức độ và nội dung áp dụng TMĐT, các rủi ro bộ phận cũng thay đổi. Trên cơ sở nghiên cứu những thay đổi này, kiểm toán viên sẽ có những phương pháp tìm hiểu đối tượng kiểm toán một cách cụ thể và đưa ra những thủ tục kiểm toán phù hợp trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán.
Đối với Rủi ro tiềm tàng:

Khi một doanh nghiệp tham gia vào TMĐT thì mức độ rủi ro tiềm tàng sẽ tăng lên do các đối tượng giao dịch sẽ khó xác định hơn. Không như những giao dịch truyền thống thông qua tiếp xúc trực tiếp, điện thoại, fax, giao dịch qua mạng Internet là giao dịch trên cơ sở một mạng thông tin công cộng và có thể được thực hiện ở bất cứ nơi nào, bởi bất cứ ai có điều kiện truy cập vào Internet và thông tin cá nhân của những người trực tiếp tham gia giao dịch có thể được hoàn toàn giấu kín. Thêm vào đó, tốc độ giao dịch rất nhanh đã làm tăng khả năng xảy ra các giao dịch giả, mạo danh. Thực tế cho thấy việc đánh cắp mật khẩu để thực hiện các giao dịch không được uỷ quyền dễ dàng hơn nhiều việc giả mạo chữ ký trên các bản hợp đồng, chứng từ liên quan.
Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể bị mất dữ liệu do thiết bị phần cứng bị hỏng hay chương trình phần mềm bị lỗi. Nếu như không có những biện pháp phòng ngừa thích hợp có thể dẫn đến việc mất dữ liệu về giao dịch và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các báo cáo tài chính.
Mức độ rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào mức độ áp dụng TMĐT trong các hoạt động của doanh nghiệp vì mỗi một doanh nghiệp, tuỳ vào chiến lược và khả năng ứng dụng công nghệ của mình, có thể áp dụng TMĐT cho nhiều hoạt động khác nhau, có thể chỉ đơn thuần là để cung cấp thông tin về doanh nghiệp, cho đến việc xây dựng một lĩnh vực kinh doanh mới trong đó toàn bộ các giao dịch với khách hàng, giao dịch mua bán được thực hiện qua mạng, ví dụ như tư vấn qua mạng, mua bán các sản phẩm trí tuệ qua mạng v.v. Mức độ áp dụng TMĐT càng sâu trong hoạt động kinh doanh sẽ làm cho rủi ro tiềm tàng càng lớn.
Đối với rủi ro kiểm soát:
Để hạn chế những sai phạm có thể xảy ra do những rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp đến báo cáo tài chính, một doanh nghiệp khi tham gia vào TMĐT thường sẽ áp dụng những biện pháp kiểm soát nhất định như: Hệ thống kiểm soát tự động quản lý truy cập mạng thông qua mật khẩu và các biện pháp nhận dạng khác, kiểm tra năng lực pháp lý, hành vi của các bên giao dịch thông qua việc kết nối trực tuyến với tổ chức phát hành thẻ tín dụng, cơ quan cấp giấy chứng minh nhân dân, các biện pháp bảo đảm an toàn dữ liệu v.v. Trong điều kiện công nghệ thông tin liên tục phát triển, những phiên bản mới của các phần mềm liên tục được ra đời thì sự cập nhật về công nghệ và kỹ năng sử dụng công nghệ cũng như tính đồng bộ của các hệ thống thông tin trong nội bộ và với bên ngoài của các doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến khả năng ngăn chặn những hành vi gian lận cũng như các sai sót trong báo cáo tài chính. Rủi ro kiểm soát trong điều kiện doanh nghiệp áp dụng TMĐT sẽ không chỉ phụ thuộc vào việc áp dụng một hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm những thủ tục kiểm tra chặt chẽ mà còn phụ thuộc vào sự thích ứng liên tục của những thủ tục kiểm tra này trong môi trường công nghệ thay đổi nhanh chóng.
Đối với rủi ro phát hiện:
Rủi ro này phụ thuộc vào sự hiệu quả và thích hợp của các thủ tục, phương pháp mà kiểm toán viên tiến hành trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán. Rủi ro này sẽ được giảm thiểu khi việc lập kế hoạch, giám sát, thực hiện kiểm toán được tiến hành theo đúng các chuẩn mực và tiêu chuẩn chất lượng quy định. Việc thực hiện những thủ tục kiểm toán thông thường từ trước đến nay sẽ khó có thể đảm bảo chất lượng của quá trình kiểm toán khi mà doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh hoàn toàn mới như TMĐT.
c)      Sự thay đổi về bằng chứng chứng minh sự tồn tại của nghiệp vụ kinh tế và quy trình phản ánh nghiệp vụ kinh tế vào sổ sách kế toán
Trong hệ thống kế toán truyền thống, mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh sẽ được ghi vào chứng từ, sau đó được kế toán phản ánh vào sổ kế toán và báo cáo tài chính. Để kiểm tra sự tồn tại, tính trung thực của một nghiệp vụ kinh tế, kiểm toán có thể thực hiện thủ tục xem xét lại các sổ sách, chứng từ gốc bằng văn bản sao chụp nghiệp vụ đó. Tuy nhiên, điều này không dễ gì làm được trong một nền kinh tế mà các giao dịch đã được “số hoá” và thực hiện trên máy bởi vì bằng chứng về một nghiệp vụ kinh tế  chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định và dưới dạng ngôn ngữ máy. Thêm vào đó, khi  toàn bộ quá trình giao dịch được xử lý ngay trên máy tính thì sẽ khó có thể có chứng từ bằng văn bản chứng minh sự phát sinh và hoàn thành nghiệp vụ kinh tế, đồng thời, việc phản ánh nghiệp vụ kinh tế vào sổ sách cũng sẽ được tự động hoá và do đó sẽ không thể thực hiện được bước kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế như trong các giao dịch truyền thống.
d)      Sự hình thành và phát triển những dịch vụ kiểm toán mới trong thời đại của TMĐT.
Nền kinh tế số hoá đã thay đổi một cách đáng kể hoạt động kinh doanh cũng như cách thức thông tin tài chính được cung cấp cho người sử dụng. Việc báo cáo tài chính được thực hiện trên mạng trực tuyến sẽ tạo nên nhu cầu cần phải kiểm toán liên tục để đảm bảo về mặt chất lượng cũng như là độ tin cậy đối với thông tin được công bố. Chính vì vậy, dịch vụ kiểm toán, từ kiểm toán thông thường sẽ được mở rộng sang kiểm toán điện tử liên tục. Kiểm toán điện tử liên tục là một quá trình kiểm toán điện tử toàn diện cho phép kiểm toán viên đảm bảo độ tin cậy của các thông tin được công bố ngay  hoặc một thời gian ngắn sau khi các báo cáo được công bố trên mạng Internet.
2.  Những lưu ý đối với hoạt động kiểm toán trong điều kiện phát triển TMĐT

Với những tác động trên đây, cần phải có những lưu ý sau trong công tác kiểm toán:
Thứ nhất, thay đổi trong yêu cầu Hiểu biết về doanh nghiệp khi tiến hành kiểm toán.
Theo yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, VSA 310 – Hiểu biết tình hình kinh doanh: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh…”. Khi kiểm toán các doanh nghiệp có ứng dụng CNTT cao, ngoài những kiến thức chuyên môn về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, kiểm toán viên còn phải được trang bị những  kiến thức và kỹ năng liên quan đến công nghệ thông tin và TMĐT để có thể hiểu được mức độ tham gia vào TMĐT, qua đó đánh giá được tính chất và mức độ rủi ro do TMĐT gây nên, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc giảm thiểu những rủi ro gây nên sai lệch nghiêm trọng trong báo cáo tài chính, xác định được tính chất, thời gian và mức độ tiến hành các thủ tục kiểm toán cũng như đánh giá các bằng chứng kiểm toán.
Ngoài ra, khi tiến hành kiểm toán những doanh nghiệp tham gia vào TMĐT, kiểm toán viên còn cần phải có những hiểu biết nhất định về chiến lược liên quan đến TMĐT của doanh nghiệp. Chiến lược của doanh nghiệp về TMĐT cũng như sự đánh giá của bản thân doanh nghiệp về mức độ rủi ro có thể chấp nhận được có thể ảnh hưởng đến vấn đề đảm bảo an toàn, tính toàn diện và độ tin cậy của các thông tin tài chính mà doanh nghiệp cung cấp. Những vấn đề mà kiểm toán viên cần quan tâm khi đánh giá chiến lược về TMĐT của doanh nghiệp bao gồm: Bản chất hoạt động TMĐT của doanh nghiệp là để tạo dựng nên một hoạt động hoàn toàn mới hay là chỉ hỗ trợ nâng cao hiệu quả những hoạt động cũ, nguồn doanh thu của doanh nghiệp thay đổi như thế nào, đánh giá của ban lãnh đạo về rủi ro và những biện pháp kiểm soát đề ra để hạn chế những rủi ro này. Trong khi đánh giá về chiến lược về TMĐT của một doanh nghiệp, cần phải đánh giá cả những rủi ro kinh doanh liên quan đến TMĐT, bao gồm cả rủi ro nội tại trong công nghệ mà doanh nghiệp lựa chọn.
 
Thứ hai, thay đổi phương pháp kiểm toán
Do các giao dịch TMĐT sẽ khó tạo ra các chứng từ đáng tin cậy chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên khi kiểm tra sự tồn tại, sự hợp lý của các giao dịch cũng như sự chính xác, trung thực trong việc phản ánh các giao dịch vào hệ thống kế toán và báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ không thể áp dụng được các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc như trong các giao dịch truyền thống do “Thiếu dấu vết của các giao dịch”. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam, VSA 401 – Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học, rủi ro về “Thiếu dấu vết của các giao dịch” là: “Một số hệ thống phần mềm máy tính được thiết kế có đầy đủ dấu vết của các giao dịch, nhưng có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn hoặc chỉ có thể đọc được trên máy tính. Trường hợp hệ thống phần mềm máy tính phức tạp, thực hiện nhiều bước xử lý thì có thể không có các dấu vết đầy đủ. Vì vậy, các sai sót trong chương trình máy tính khó có thể được phát hiện kịp thời bởi các thủ tục thủ công”.Thay vì áp dụng các phương pháp kiểm toán này, kiểm toán viên sẽ kiểm tra và đánh giá toàn bộ quy trình giao dịch và phản ánh nghiệp vụ kinh tế vào hệ thống kế toán cũng như hệ thống kiểm soát tự động áp dụng cho quy trình này như kiểm tra tính trung thực của giao dịch, ngày giao dịch, chữ ký điện tử, các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin áp dụng nhằm ngăn ngừa việc sửa đổi không hợp lệ các thông tin kế toán, qua đó đánh giá độ tin cậy của hệ thống tự động hoá thực hiện và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Hiện nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, hoạt động TMĐT đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, TMĐT được coi là sự lựa chọn không thể thay thế trong chiến lược kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, là phương thức kinh doanh hiệu quả mà các doanh nghiệp sử dụng trong nền kinh tế vốn cạnh tranh rất gay gắt. Để đảm bảo đáp ứng yêu cầu về chất lượng thông tin kiểm toán, các doanh nghiệp kiểm toán nói chung và các kiểm toán viên nói riêng cũng cần phải nhận biết về xu hướng này và có những sự chuẩn bị cần thiết.
TS. Đào Thị Thu Giang
                                                Trường Đại học Ngoại thương
Theo: khoahockiemtoan.vn

Các cách kiếm tiền hiệu quả thông qua Mạng xã hội

Theo như nghiên cứu của công ty tư vấn thương mại trực tuyến Booz & Co., truyền thông qua mạng xã hội là cách tốt nhất để tạo sự ảnh hưởng đến khách hàng. Và trong thời gian khoảng 3 năm tới , lợi nhuận của thương mại thông qua mạng xã hội trên toàn cầu sẽ đạt 30 tỉ đô la, riêng tại Mỹ là 17 tỉ đô la.

Công ty cũng cho biết, 23% trong số những người sử dụng mạng xã hội ít nhất 1 giờ mỗi ngày cũng sẽ sẵn sàng mua sắm thông qua phương tiện này,

Cũng như thương mại điện tử trước đây, sẽ phải mất một khoảng thời gian để thương mại trên mạng xã hội được người tiêu dùng chấp nhận.

twitter-file-670

Với nhiều khách hàng, mua sắm trong thế giới thực phải là ra ngoài cùng bạn bè, người thân, tự chọn lấy món hàng mình yêu thích và cùng bình luận về nó. Giờ đây, các công ty sử dụng mạng xã hội để bán hàng cũng đang nỗ lực để tạo ra một môi trường tương tự.

Booz mới đây đã xuất bản nghiên cứu về những bí mật của mua sắm trong quí IV/2011. Nghiên cứu này phân tích những hoạt động của các nhà bán lẻ trực tuyến lớn.

Theo đó, chỉ hơn một nửa trong những công ty bán lẻ có trang Facebook (mà hầu hết các trang đều chứa đường dẫn cho khách hàng đến trang web chính của công ty). Chỉ có 16% nhà bán lẻ cung cấp chức năng “mua” ngay tại Facebook.

file-host-facebook-thang-2-2013

Sau đây là một số kinh nghiệm để cải thiện hoạt động bán hàng trên Facebook rút ra từ kết quả nghiên cứu:

1. Nếu bạn kinh doanh với quy mô tương đối lớn, hãy cung cấp địa chỉ kết nối và giúp đỡ trực tiếp khách hàng 24/7 trên mạng xã hội (thông qua chat hoặc gọi điện) giống như dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông thường.

2. Cung cấp những phương thức đảm bảo, bảo hành uy tín để giải tỏa những mối lo ngại của khách hàng. Những mối lo lắng này cũng là những mối lo lắng chung của bất kỳ ai khi tham gia mua sắm trực tuyến: thanh tóan không minh bạch; hàng hóa không đúng kích thước, màu sắc, chất liệu; giao hàng chậm trễ…

3. Đưa ra các chương trình khuyến mãi đặc biệt, thưởng điểm cho khách hàng trung thành, và các đặc quyền khác cho khách hàng khi mua sắm thông qua mạng xã hội. Ngoài ra, sự kết hợp giữa các chương trình khuyến mãi trên Facebook và trang web chính sẽ giúp thu hút thêm fan hâm mộ tham gia theo dõi các trang mạng xã hội trong một thời gian nhất định.

4. Đưa ra lựa chọn cập nhật thông tin qua điện thoại di động (hãy nhớ không bao giờ “nhấn chìm” và làm phiền khách hàng bằng quá nhiều thông tin).

5. Kết hợp các tính năng của trang web vào trang Facebook fanpage: chức năng zoom và xem hình ảnh sản phẩm từ nhiều góc độ, xem sản phẩm dưới nhiều lựa chọn khác nhau, tư vấn và hỗ trợ mua sắm… để tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng.

6. Thêm vào các công cụ tìm vị trí (nếu công ty bạn có hệ thống cửa hàng bán lẻ) phòng khi khách hàng muốn đến mua hàng tận nơi.

7. Cung cấp các nội dung miễn phí hoặc “độc quyền” dành riêng cho các fan trên Facebook.

Trên đây là một số gợi ý nhưng bạn không nên ứng dụng một cách rập khuôn. Thành công đòi hỏi nhiều thử nghiệm và điều chỉnh để xem điều gì là thích hợp nhất với doanh nghiệp cũng như nhu cầu khách hàng của mình.

Dịch từ : Inc.com

 

CFO trong thời kỳ khủng hoảng

Một nghiên cứu mới đây của Tập đoàn IBM (2010 Global CFO Study) cho thấy, việc sử dụng năng lực phân tích kinh doanh và thông tin hợp nhất từ các Giám đốc Tài chính (CFO) để hỗ trợ xây dựng chiến lược sẽ giúp doanh nghiệp giành được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Bởi vậy, việc đánh giá và nhìn nhận đúng vai trò của CFO trong từng thời kỳ sẽ tạo đà cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Không đơn thuần là Giám đốc Tài chính
CFO
Chính việc con tàu kinh tế toàn cầu chòng chành đã hướng sự chú ý của toàn thế giới vào các CFO, đặc biệt là các tổ chức tài chính mà họ đang chèo lái. Giữa lúc cả thế giới đang chìm trong bất ổn thì họ thường xuyên được ban giám đốc mời vào phòng họp để tham gia các cuộc thảo luận nhằm ứng phó với tình hình.
Ông chủ của họ, các CEO, giờ đây không đơn giản chỉ cần những chuyên gia làm việc với các con số, mà quan trọng hơn, họ cần những người có khả năng cung cấp những phân tích, dự báo và giúp xử lý rủi ro trong mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh, từ định giá cho đến sản xuất. Chính bởi vậy, các CFO đang nổi lên với nhiều vai trò và trọng trách hơn bao giờ hết.
Vào những năm 90, vai trò của các CFO chỉ dừng lại ở tư cách là một đối tác kinh doanh giúp các CEO phát triển và thực hiện thành công các chiến lược tăng trưởng. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, các CFO cũng chỉ hướng sự quan tâm của họ vào hiệu quả và kiểm soát chi phí. Nhưng trong thời gian suy thoái kinh tế gần đây, dưới tác động từ những thay đổi liên tục của nền kinh tế toàn cầu cũng như những khủng hoảng tài chính liên hoàn tại nhiều nước, các CFO đã chuyển sang những vai trò mới phức tạp và nhiều thách thức hơn bao giờ hết.
Những CFO có kết quả hoạt động vượt trội hơn so với các đồng nghiệp của họ trên mọi chỉ số đánh giá tài chính là những người có khả năng thúc đẩy 2 năng lực chính trong doanh nghiệp: hiệu quả tài chính (khả năng xây dựng được các quy trình và chuẩn dữ liệu đồng nhất có thể sử dụng chung cho các phòng ban trong toàn doanh nghiệp) và thông tin kinh doanh (có được từ độ chín của năng lực tài chính kết hợp với các năng lực phân tích và sử dụng công nghệ hỗ trợ để có thể cung cấp các thông tin chiến lược, tham gia lập kế hoạch và tối ưu hóa các hoạt động kinh doanh).
CFO toàn cầu và CFO ASEAN
Tuy nhiên, cũng theo kết quả nghiên cứu CFO toàn cầu của IBM, có một khoảng cách khá lớn trong hiệu quả làm việc giữa các CFO khu vực ASEAN và các CFO toàn cầu. Các CFO khu vực ASEAN được cho là làm việc kém hiệu quả hơn so với các đồng nghiệp toàn cầu trong việc xử lý và đưa ra các thông tin hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Để cải thiện được điều này, họ cần phải thúc đẩy được quá trình hợp nhất thông tin giữa các bộ phận khác nhau trong toàn doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các CFO khu vực ASEAN có tỉ lệ thực hiện các đánh giá tài chính và hiệu quả hoạt động một cách thủ công cao hơn so với các đồng nghiệp toàn cầu của họ. Họ thiếu sự hỗ trợ của CNTT trong việc phân tích, xử lý cũng như hợp nhất thông tin.
Các CFO khu vực ASEAN hiện đang thua kém hơn so với các đồng nghiệp toàn cầu của mình chính bởi mức độ thủ công trong các hoạt động phân tích thông tin khiến hiệu quả hoạt động phân tích và hợp nhất của họ còn chưa cao.
Khủng hoảng kinh tế rồi cũng sẽ qua đi, nhưng có một điều chắc chắn rằng các CFO không thể quay trở lại vai trò của họ thời tiền khủng hoảng, khi mà họ chỉ đơn giản thực hiện chức năng tính toán bù trừ các con số. Kỷ nguyên của các CFO với vai trò “tích hợp giá trị” cho các quyết định mang tính chiến lược của doanh nghiệp đã đến. Nhiệm vụ của các doanh nghiệp trong giai đoạn này là cần phải trang bị đầy đủ cho các CFO của họ các công cụ CNTT hỗ trợ để họ có thể thực hiện những vai trò mới của mình trong giai đoạn kinh tế mới.
Nguồn : webketoan.com

Doanh nhân xây dựng hệ thống tạo tiền

Người khôn ngoan, tìm cho mình một công việc, người thông minh, xây dựng cho mình một hệ thống.

Cách đây dăm năm, trong một lần ngồi café sáng với chúa đảo Tuần Châu bên bờ vịnh Hạ Long, tôi hỏi ông: Với mỗi người, mỗi ngày đều chỉ có 24 giờ, vậy bằng cách nào anh kiếm tiền được nhiều thế mà trông vẫn thảnh thơi.

Ông nói đại ý: Với người khôn ngoan thường tìm cho mình một công việc, với người thông minh sẽ xây cho mình một hệ thống. Hệ thống đó tạo ra dòng tiền.

Để dòng tiền luôn tuôn chảy

Câu chuyện này rồi dần trôi đi cho tới một hôm tình cờ tôi được đọc một câu chuyện ngụ ngôn của người Italia như sau:

“Ở một ngôi làng nhỏ có hai người bạn trẻ tên là Bruno & Pablo, họ thường trao đổi với nhau để làm sao trở thành những người thành đạt nhất trong làng. Và rồi một ngày cơ hội đã đến với họ. Già làng đã thuê họ xách nước từ hồ nước trên núi cao về cho dân làng sử dụng. Hàng ngày họ làm việc chăm chỉ và tối đến nhận được tiền công của mình.

Bruno có thân hình to khỏe thì nghĩ rằng anh ta có thể sử dụng những thùng xách nước to hơn để được nhiểu tiền hơn. Còn Pablo thì gầy yếu hơn nên cảm thấy bất ổn. Vì vậy, anh nghĩ ra một cách làm thông minh hơn, để làm sao tiết kiệm sức lực và có nhiều tiền hơn.

Pablo nẩy ra ý tưởng và lập kế hoạch “Master plan” xây dựng đường ống để dẫn nước từ hồ trên núi chảy về làng. Anh đã trao đổi ý tưởng đó với Bruno và mời anh ta cùng cộng tác xây dựng đường ống. Bruno cho là viển vông và sẽ ảnh hưởng đến thu nhập hàng ngày của anh ta nên đã không đồng ý hợp tác.

Pablo đành phải thực hiện kế hoạch một mình. Hàng ngày anh vẫn đi xách nước với số lượng vừa phải để giữ sức. Anh dành sức lực còn lại để ngày thứ 7 và Chủ nhật xây dựng đường ống. Nhiều người cho rằng Pablo “điên rồ” và cười nhạo anh. Nhưng Pablo đã bỏ qua những lời chế nhạo đó và kiên trì kế hoạch của mình đã vạch ra.

Bruno với sức khỏe vượt trội đã xách những thùng nước to hơn và được nhiều tiền hơn. Anh đã có tiền để mua nhà và một con bò. Sau giờ đi làm anh thường đến các quán bar để uống bia, xả hơi.

Nhưng thời gian trôi đi, Bruno cảm thấy sức lực ngày càng yếu hơn và mệt mỏi hơn. Anh buộc phải xách những thùng nước nhỏ hơn trước, vì vậy mà thu nhập cũng giảm dần theo thời gian. Cơ thể Bruno già đi trông thấy vì phải làm thêm nhiều giờ và tăng khối lượng công việc.

Còn Pablo thì sau 2 năm kiên trì kế hoạch đã xây dựng xong đường ống dẫn nước từ trên núi về làng. Khi đường ống được xây dựng xong, Pablo không phải đi gánh nước nữa mà ngồi tại nhà thu tiền. Tiền chảy về túi của anh ngay cả khi anh đang ngủ hoặc đi chơi…”.

Liên tưởng đến quan niệm của Chúa đảo, có thể thấy, Bruno là người khôn ngoan. Anh ta đã tìm thấy cho mình một công việc. Tuy nhiên, đó chỉ thuần túy là việc đổ mồ hôi đổi lấy tiền. Khi ráo mồ hôi, dòng tiền ngừng chảy. Bằng cách đó thì chúng ta thường phải đánh đổi sức khỏe, sắc đẹp, tuổi thanh xuân và sự tự do để lấy tiền.

Nhưng khi cơ thể xuống dốc, theo đó bệnh tật ập đến và chúng ta lại phải bỏ tiền ra để mua lại sức khỏe. Nhưng liệu tiền có mua lại được tuổi thanh xuân và sức khỏe không? Có những căn bệnh mà dẫu có nhiều tiền mà ta cũng không thể đánh đổi.

Còn trường hợp của Pablo, anh ta mới là người thông minh. Anh ta đã sáng tạo cho mình cả một hệ thống tạo ra thu nhập ổn định, dài hạn và nhàn nhã khi về già.

Với đời sống có muôn hình vạn trạng cách kiếm ra tiền, nhưng suy cho cùng cũng chỉ có hai cách cơ bản. Cách thứ nhất, dùng sức lực, kinh nghiệm để đổi lấy tiền bạc và cách thứ hai là xây dựng hệ thống tạo tiền.

Với doanh nhân thường họ không kiếm tiền theo cách thứ nhất mà thường là chọn cho mình cách thứ hai tức là xây dựng cho mình một hệ thống sinh lợi. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng hệ thống tạo tiền thế nào có thể sinh lợi theo tỷ lệ nào lại là chuyện đáng bàn.

Liên tục đổi mới hệ thống?

Có doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu thị trường, đầu tư vốn liếng, xây dựng nhà máy, làm ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Dây chuyền sản xuất cũng chính là hệ thống tạo tiền cho doanh nhân. Vấn đề còn lại là anh chọn sản phẩm nào, được sản xuất với quy trình công nghệ ra sao và làm thế nào để tồn tại và chiến thắng trước các đối thủ cùng ngành hàng.

Chuyện nhà máy sản xuất đèn hình Orion Hanel, một doanh nghiệp có vốn đầu tư vài trăm triệu USD, sau hơn chục năm tồn tại đã nộp đơn xin phá sản cho thấy, chỉ cần chậm đổi mới đã có thể bị người tiêu dùng quay lưng lại và tự loại bỏ mình khỏi cuộc chơi.

Doanh nghiệp làm ăn theo kiểu “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” mà không phân tích kỹ nhu cầu thị trường, lợi thế cạnh tranh và quản lý hệ thống một cách khoa học, khi thị trường êm thuận thì không sao, gặp sóng to gió lớn như cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra đã không chống đỡ nổi. Hàng ngàn doanh nghiệp phá sản và đóng cửa trong thời gian qua có nguyên nhân đó.

Điều đáng nói là, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như một cơn lốc, cuốn phăng hàng trăm ngàn doanh nghiệp thì vẫn còn đó những tên tuổi, những thương hiệu không những bán trụ, giữ vững thị trường, mà còn đạt mức tăng trưởng ngoạn mục.

Một quần thể vui chơi giải trí Tuần Châu độc đáo bên bờ vịnh di sản thế giới 6 tháng đầu năm vẫn đón ngót nửa triệu khách du lịch và đạt doanh số hàng trăm tỷ đồng. Một café Trung Nguyên vẫn tiếp tục phát triển và tăng trưởng, Thực phẩm mang nhãn hiệu Kinh Đô vẫn tiếp tục chiếm lĩnh thị trường…

Để có một hệ thống tạo tiền vững chắc, không có cách nào khác phải biết cách thiết kế hệ thống độc đáo, bền vững. Hơn thế là việc bảo dưỡng nâng cấp hệ thống thường xuyên. Đừng tưởng rằng, khi anh đã có hệ thống tạo tiền là có thể kê cao gối mà ngủ trong chiến thắng. Bất cứ hệ thống nào khi vận hành sẽ bộc lộ những khiếm khuyết, những bất cập.

Với các doanh nhân thông minh là người biết khắc phục thường xuyên những khuyết tật đó. Không những thế phải nắm bắt những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật để nâng cấp hệ thống, có như thế mới nắm chắc phần thắng trong cuộc cạnh tranh.

Nhân ngày doanh nhân, khi đọc tài liệu về Network 21, trong đó gặp lại câu nói: Người khôn ngoan, tìm cho mình một công việc, người thông minh, xây dựng cho mình một hệ thống”.

Theo doanhnhan360

4 sai lầm cần tránh trong việc ra quyết định

Hàng ngày bạn phải ra nhiều quyết định lớn nhỏ khác nhau. Dưới đây là những điều cản trở bạn đưa ra các quyết định một cách tự tin hơn.
 

Việc ra quyết định rất quan trọng đối với các doanh nhân . Hàng ngày, bạn phải đặt ra một quá trình hành động, chọn chiến thuật, đánh giá các kết quả nếu không thì lựa chọn trong hàng loạt phương án.

Còn nữa, ra các quyết định có thể còn phức tạp hơn nhiều so với nhiều so với hình dung của bạn. Dưới đây là bốn lỗi thường gặp dễ khiến bạn bị bước hụt.

1. Ghi nhớ những điều tầm thường

Một bản phân tích gần đây do các chuyên gia nghiên cứu thuộc trường Đại học Florida và Wharton thực hiện đã đưa ra lý do tại sao mọi người lại gặp khó khăn với những việc lẽ ra là dễ dàng và những quyết định không quan trọng. Họ coi các quyết định quan trọng là khó khăn. Nếu vì bất cứ lý do nội tại hoặc bên ngoài nào đó, quyết định về một vấn đề không quan trọng liên quan đến thuế thì tầm quan trọng của kết quả sẽ bị phóng đại lên. Điều đó có phần đúng nếu lúc đầu bạn nghĩ sẽ dễ dàng đưa ra quyết định.

Khi mối liên hệ đó nảy sinh, nó sẽ tạo ra một cái vòng phản hồi luẩn quẩn làm khuếch đại những tác động ảnh hưởng lên. Khi bạn nghĩ quyết định càng lúc càng quan trọng thì khả năng là bạn dành nhiều thời gian và công sức cho nó, làm tăng thêm tính phức tạp của việc ra quyết định. Một cách để giải quyết vấn đề này là đặt ra sự hạn chế về khoảng thời gian giải quyết vấn đề. Khi thời gian kết thúc, hãy lựa chọn và tiếp tục tiến lên.

2. Xóa bỏ các chi phí chìm

Một trong những vấn đề kinh điển trong việc ra quyết định hiệu quả là không nhận diện được các chi phí chìm. Chi phí chìm là chi phí bạn bỏ ra nhưng không thể thu về được. Ví dụ, bạn đầu tư đặt hàng một phần mềm rồi mới phát hiện ra rằng nó không phát huy tác dụng tốt đối với công việc kinh doanh của bạn và thực sự đã tạo ra nhiều công việc cho các nhân viên.

Nhưng không ai thích ném tiền đi, vì vậy nếu bạn nghĩ bạn chỉ tiêu nhiều hơn một chút, bạn có thể cứu được các khoản chi phí trước đó. Thường thì điều đó sẽ dẫn tới tình huống gọi là một tiền gà bằng ba tiền thóc.

Khi phải đối mặt với việc dành quá nhiều tiền vào chi phí chìm (dù là tiền bạc, thời gian hoặc cảm xúc) hãy lùi lại một bước và tạm quên chúng đi trong chốc lát. Hãy xem quyết định đó đáng giá thế nào đối với bạn và công ty của bạn và ước tính tổng chi phí bạn sẽ phải bỏ ra nếu tiếp tục. Nếu con số kiểm kê cao hơn lwoij nhuận thì đó là lúc bạn phải thay đổi quyết định của mình.

3. Chết chìm trong đống dữ liệu

Các doanh nghiệp rất cần các số liệu vì mục đích tốt. Số liệu và thông tin có thể giúp bạn đưa ra những quyết định thông minh hơn. Những có quá nhiều số liệu tốt cũng có thể khiến bạn bị ngợp và dẫn tới việc bị tê liệt trong việc phân tích. Tương tự như vậy, bạn có thể có các số liệu tồi hoặc dành quá nhiều sự quan tâm tới những yếu tố khẳng định những việc bạn muốn nghĩ và không nhất thiết phải mang tính hiện thực.

Bước đầu tiên để khắc phục tình trạng này là hãy chắc chắn rằng những số liệu bạn có trong tay phù hợp. Nếu bạn lập biểu đồ về thị trường mới hoặc loại sản phẩm và nhận thấy các số liệu lịch sử có thể không thể giúp ích vì nó chỉ cho bạn biết bạn vừa ở đâu chứ không phải nơi bạn định đi. Hãy tìm kiếm các số liệu có thể làm sáng tỏ tương lai chứ không phải quá khứ.

Tiếp theo hãy tìm hai trong bốn số liệu khiến bạn phải ngập đầu chứ không phải những số liệu tinh vi mang tính chất bí mật nhà nghề. Có nhiều yếu tố bạn có thể ghi nhớ trong đầu. Hãy xác định không quá 10 mảng dữ liệu có ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả quyết định của bạn. Sau đó hãy quên tất cả mọi thứ khác. Nếu mọi thứ không như ý muốn, hãy xem xét lại xem liệu bạn có chọn đúng những yếu tố thực sự quan trọng.

4. Tâm lý làm hoặc chết

Chúng ta đang sống trong một thế giới cường điệu, và người ta dễ phóng đại quá tầm quan trọng của bất cứ thứ gì: một ngày, một vụ đầu tư hoặc một quyết định kinh doanh. Rất hiếm khi bạn phải đưa ra hoặc phá vỡ một quyết định và nếu bạn thấy mình đang làm như vậy, có nhiều khả năng là bạn đã mắc nhiều lỗi trong suốt quá trình trước đó.

Bạn phải nhận thấy rằng mọi quyết định đều mang tính tạm thời. Các điều kiện sẽ thay đổi và bạn có thể thay đổi quyết định và cách giải quyết vào ngày sau đó. Bạn có thể mất một chút thời gian hoặc tiền bạc khi làm như vậy, nhưng thà vậy còn hơn là phải hứng chịu các chi phí chìm và húc đầu vào đá do tính ương bướng của bản thân. Nếu bạn muốn công ty của mình tồn tại lâu dài, hãy sử dụng chiến lược ra quyết định tổng thể có thể trải dài theo thời gian chứ đừng nghĩ mỗi khoảnh khắc đều là những khoảnh khắc quan trọng nhất đối với công ty mình.

Tránh được bốn vấn đề này không đảm bảo rằng bạn sẽ tạo ra những quyết định nhưng chúng sẽ giúp bạn giải phóng thời gian và năng lượng và cải thiện lợi thế của mình.

Theo hoclamgiau

3 qui tắc vàng trong đàm phán

Nghệ thuật đàm phán lẩn trốn hầu hết chúng ta, thậm chí cả các nhân viên bán hàng vì rất ít người dành thời gian để hiểu đúng lời nói và tuân theo các qui tắc vàng trong đàm phán.

Lỗi đầu tiên và cũng là lỗi lớn nhất chính là sự hiểu nhầm ý nghĩa của từ này. Khi tôi hỏi những người tham gia hội thảo Closers của tôi về nghĩa của từ “đàm phán”, tôi đã nhận được những câu trẻ lời kiểu như: “có được vụ làm ăn tốt”, “mua được món hàng giá rẻ”. Đối với nhiều người, đó là một quá trình đầy những chiến thuật chạy trốn và vượt qua hoặc trao nhận đầy đau thương và hầu như chỉ liên quan đến việc chấp nhận về giả cả và các điều khoản.

Từ “đàm phán” trong tiếng Anh bắt nguồn từ từ “negotiatus” trong tiếng Latin, là động tính từ quá khứ của từ “negotiari”, có nghĩa là tiếp tục kinh doanh. Nghĩa gốc của từ này rất cần được hiểu rõ vì mục tiêu của việc đàm phán là tiếp tục kinh doanh bằng cách trao đi cho người khác để đạt được một thỏa thuận.

Vì vậy hãy bỏ đi ý niệm rằng đàm phán có nghĩa là giảm giá xuống để đạt được một thỏa thuận. Một mức giá thấp hơn không tạo nên một thương vụ tốt hơn; nó chỉ tạo ra ít lề (số chênh lệch giữa giá vốn và giá bán) hơn cho bạn và công ty bạn. Mục đích của bạn là đạt được một thỏa thuận về một đề xuất và để làm được điều đó bạn phải tạo ra được giá trị cho cho những thứ bạn cung cấp. Giải pháp mà sản phẩm hay dịch vụ của bạn cung cấp là điểm trọng tâm của các cuộc đàm phán chứ không phải là mức giá.

Dưới đây là ba trong số mười hai qui tắc vàng của tôi, và tôi sẽ không cho phép bản thân vi phạm trong bất kỳ cuộc đàm phán (dù là đơn giản hay phức tạp) nào:

1. Luôn luôn bắt đầu các cuộc đàm phán. 

Bạn phải khởi đầu qua trình vì bất cứ ai nắm quyền khởi đầu cuộc đàm phán đều có xu hướng nắm quyền kết thúc cuộc đàm phán. Nếu bạn để những người thuộc phe khác bắt đầu cuộc đàm phán, bạn sẽ luôn từ bỏ quyền điều khiển thường là theo cách bạn thậm chí còn không nhận ra. Ví dụ, khi bạn hỏi ai đó về ngân sách dự án của anh ta, chính là bạn đang cho phép anh ta bắt đầu cuộc đàm phán. Sau đó bạn sẽ dành thời gian chạy theo các con số của anh ta thay vì tìm ra giải pháp tốt nhất. Khi tôi ngồi vào bàn đàm phán làm việc để đạt được một thỏa thuận về các con số liên quan đến quyết định, tôi thậm chí còn không ngừng lời để ngăn không cho phía bên kia nắm quyền bắt đầu. Điều này nghe có vẻ kỳ dị nhưng nó cho thấy tầm quan trọng của việc bắt đầu một vụ giao dịch.

Một lần tôi có một khách hàng muốn đưa ra các điều khoản của ông ta trước. Tôi đã lịch sự trả lời: “Xin lỗi, tôi đánh giá cao việc ông sẵn lòng cho tôi biết những việc ông có thể làm nhưng tôi muốn dành vài phút để chia sẻ với ông những thông tin tôi đã tổng hợp được. Nếu những thông tin đó chưa đủ, ông có thể phản hồi lại với tôi”. Điều này cho phép tôi giành quyền điều khiển ngay tại lúc với đầu.

2. Luôn luôn đàm phán bằng văn bản.

Tôi thấy rất nhiều nhân viên bán hàng chuyên nghiệp mắc sai lầm khi thảo luận và làm việc dựa trên các điều khoản thỏa thuận mà lại không đưa các ý kiến này vào biên bản thỏa thuận. Nhưng mục đích của đàm phán là đi đến một văn bản thỏa thuận chứ không phải là kể một câu chuyện hay dành thời gian nói chuyện. Ngay từ lúc đầu tiên đưa ra đề xuất, tôi đã nhắc tới việc tạo ra một bộ hồ sơ trước sự chứng kiến của các khách hàng. Hồ sơ bao gồm tất cả các thỏa thuận và trở thành hiện thực đối với các khách hàng tương lai. Hãy đàm phán trước, rồi sau đó tạo thêm một hồ sơ, không cần thiết phải ghi thời gian giao dịch. Nhưng nếu bạn tạo một thỏa thuận bằng văn bản khi đàm phán, bạn phải chuẩn bị để yêu cầu khách hàng ký vào khi họ đã quyết định mua.

3. Luôn luôn điềm tĩnh.

Buổi đàm phán có thể trở nên nặng nề với các đề tài thảo luận, những cái tôi của người tham gia và những cảm xúc. Những người đàm phán giỏi biết cách giữ được sự điềm tĩnh, thể hiện vai trò lãnh đạo và đưa ra các giải pháp trong khi những người khác trở nên điên cuồng với những chủ đề của cá nhân và những cảm xúc vô dụng. Gào lên, cáu kỉnh và bộc lộ sự bức xúc có thể khiến bạn cảm thấy tốt hơn nhưng những hành vi như vậy sẽ không có lợi cho bạn khi đàm phán. Khi những người khác để cảm xúc lấn át, hãy điềm tĩnh và dùng logic để đàm phán và kết thúc mọi việc.

Theo doanhnhan360

“Chinh phục” nhà tuyển dụng chỉ trong 10 phút

Nhiều thống kê cho thấy bạn chỉ có 6 – 20 giây ngắn ngủi để thu hút sự chú ý của nhà tuyển dụng vào CV của mình. Tương tự như vậy với cuộc phỏng vấn trực tiếp. Bạn không có nhiều hơn 5 – 10 phút để tạo ấn tượng ban đầu tích cực.

Vậy trong 10 phút đó, bạn nên làm gì để “chinh phục” người phỏng vấn? Dưới đây là một số gợi ý dành cho bạn:

Gây ấn tượng ban đầu thật tốt

Chúng ta đều biết ấn tượng đầu tiên vô cùng quan trọng. Một cái bắt tay thật chắc, một nụ cười lạc quan và một phong thái chuyên nghiệp giúp bạn có một khởi đầu trọn vẹn trong buổi phỏng vấn. Nếu bạn không thấy thoải mái và hạnh phúc khi gặp nhà tuyển dụng, chắc chắc họ cũng không muốn mời bạn quay lại.

Đi thẳng vào vấn đề

Nếu câu hỏi đầu tiên là “ Hãy nói cho chúng tôi về bạn” và bạn bắt đầu câu chuyện cuộc đời từ nơi bạn sinh ra, có thể bạn đã làm mất khán giả của mình lúc nào không hay. Thay vào đó, bạn nên trả lời một cách ngắn gọn và trực tiếp. Bạn không nên nói những thông tin nhà tuyển dụng không cần thiết phải biết.

Lắng nghe chăm chú và trả lời các câu hỏi

Có thể bạn tin rằng với khả năng của mình bạn có thể lái các câu hỏi của nhà tuyển dụng sang những điều mà bạn muốn. Tuy nhiên, một lời khuyên dành cho bạn là không nên làm vầy vì nhà tuyển dụng không hể ấn tượng nếu bạn không trả lời cụ thể các câu hỏi của họ.

Hãy đảm bảo chú ý đến các câu hỏi và trả lời chi tiết thể hiện chuyên môn của bạn

Bạn có thể nghĩ đến việc sử dụng chiến thuật “STAR” để có một câu trả lời trọn vẹn. STAR là cách viết tắt của Situation ( tình huống), Task (nhiệm vụ), Action (hành động) và Results (kết quả). Bạn nêu ra một tình huống, mô tả nhiệm vụ bạn cần phải làm, bạn đã có những hoạt động gì để hoàn thành và cuối cùng mô tả kết quả bạn đã đạt được.

Nên có những dẫn chứng cụ thể cho những điều bạn nói

Bạn nên chuẩn bị các câu chuyện cụ thể mô tả thành quả công việc đặc biệt liên quan đến những mong đợi của nhà tuyển dụng cần cho vị trí này. Nếu bạn biết công việc này cần kiến thức quản lý, hãy chuẩn bị mô tả những thành công của bạn trong việc quản lý tổ chức và con người.

Không nên nói quá nhiều

Bạn nên ghi nhớ chiến thuật “STAR”. Chiến thuật này sẽ giúp nhà tuyển dụng hiểu bạn tốt hơn cũng như những điều bạn có thể đóng góp cho công ty họ. Tuy nhiên, việc nói quá nhiều, quá chi tiết lại khiến họ không tập trung và giảm hứng thú với những điều bạn nói.

Nhấn mạnh những điều bạn học được

Các nhà tuyển dụng đánh giá cao nếu bạn có thể mô tả những điều bạn học được kinh nghiệm trong quá khứ và cách bạn vận dụng những bài học đó để làm tốt công việc hiện tại. Bạn sẽ có cơ hội nói về điều này khi nhà tuyển dụng hỏi “ Điểm yếu của bạn là gì?”. Nếu bạn có thể trả lời nhanh chóng điểm yếu và việc bạn cải thiếu điểm yếu đó và hoàn thiện bản thân, bạn sẽ còn tiến xa.

Theo dân trí