Tại sao phải cần có kiến thức về Thuế?

Đóng thuế là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi công dân và quan trọng hơn hết, khoản thuế mà các doanh nghiệp mỗi năm phải đóng không phải là con số nhỏ, thậm chí có thể lên đến hàng ngàn tỉ đồng. Vì vậy, tiết kiệm trong những khoản thuế phải đóng cũng là cách để doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và làm tăng lợi nhuận.

Tại sao nên học Thuế?

Tại sao nên học Thuế?

Tiết kiệm trong những khoản thuế phải đóng không có nghĩa là trốn thuế, tiết kiệm ở đây được hiểu là đóng thuế dưới sự tuân thủ về luật với mức thấp nhất có thể.

Một doanh nghiệp có thể tiết kiệm được khoản tiền khổng lồ nhờ vào việc hiểu biết kiến thức về thuế, trong khi đó lại có một số doanh nghiệp bị tăng chi phí vì phải đóng phí phạt từ việc thiếu kiến thức về việc đóng thuế. Đó là lí do tại sao có những công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn thuế cho doanh nghiệp.

Đó là về khía cạnh doanh nghiệp, mỗi cá nhân chúng ta cũng nên trang bị cho mình kiến thức về thuế để ít nhất có thể hiểu kiểm soát được lương hằng tháng của chúng ta, tiền thưởng cuối năm sẽ phải được đóng thuế thế nào, nếu ai có nhu cầu mua xe ô tô, mua nhà hoặc những sản phẩm chịu thuế suất cao. Kiến thức về thuế sẽ giúp chúng ta tự tin hơn trong việc đưa ra quyết định. Có thể bạn chưa biết, kiến thức thuế có thể giúp bạn không phải đóng thuế khi bạn trúng vé số trong một số trường hợp nữa đấy.

Bạn có thể tìm kiếm rất nhiều tài liệu về thuế từ mạng điện tử, sách báo. Ở đây, mình chia sẻ với các bạn nguồn tài liệu về thuế rất cô đọng và thực tế, đó là môn học F6 ( Taxation ) trong chương trình kế toán, kiểm toán và tài chính ACCA. Môn học F6 trong ACCA không những là một chặng đường giúp bạn hoàn thành và trở thành hội viên ACCA, nó còn mang lại cho bạn những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao về thuế thông qua những bài tập tình huống thực tế liên quan đến thuế thu nhập cá nhân, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhà thầu…

Hy vọng bài viết chia sẻ về kiến thức thuế sẽ giúp các bạn có thêm thông tin và động lực trong việc tìm hiểu về thuế Việt.
Thanh Sơn – Tổng hợp

Kế toán quản trị và kế toán tài chính

Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai loại hình kế toán có nhiều điểm tương đồng với nhau, do đó, thường bị nhầm lẫn, hoặc đánh đồng nhau. Để hiểu rõ được mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính ta cần phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.

Sự giống nhau
Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn.
Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết.

Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.
Sự khác nhau
Mục đích:
– Kế toán quản trị: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.
Đối tượng phục vụ:
– Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc).
– Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê).
 Đặc điểm của thông tin:
– Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư.
– Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

Kế toán quản trị và kế toán tài chính

Kế toán quản trị và kế toán tài chính

Nguyên tắc cung cấp thông tin:
– Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.
– Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.
Phạm vi của thông tin:
– Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan.
– Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp.
Kỳ báo cáo:
– Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày.

- Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

Quan hệ với các môn khoa học khác:
Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác. Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.
Tính bắt buộc theo luật định:
– Kế toán quản trị không có tính bắt buộc.
– Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định. Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành).

Theo Ketoanthucte.vn

Kế toán nội bộ

  Với xu hướng hội nhập của nền kinh tế , nhiều DN Nhỏ và Vừa được mở ra trên thị trường, các DN này ít có kế toán làm việc trực tiếp  tại công ty, do đó các DN thường bỏ qua kế toán quản trị. Trong khi đó kế toán quản trị đóng vai trò rất quan trọng trong DN, đòi hỏi kế toán phải cập nhật hàng ngày và li ên tục giúp DN nắm bắt được tình hình tài chính để vận hành trong kinh doanh một cách nhanh nhất.

Chúng tôi xin đưa ra một số công việc của kế toán nội bộ để các bạn đọc hiểu sâu hơn về công việc của kế toán nội bộ như sau:

Công việc của kế toán nội bộ

1. Kế toán quỹ tiền mặt (đóng vai trò của thủy quỹ ): Căn cứ vào Quy định thu – Quy định chi của DN, kế toán lập phiếu thu – chi và thực hiện thu chi vào sổ theo dõi, quản lý luồng tiềng qua quỹ và quản lý tiền.

2. Kế toán kho: Căn cứ vào Quy định xuất, quy định nhập của DN. Kế toán lập chứng từ xuất – nhập, nhập – xuất hàng căn cứ vào chứng tư ghi sổ theo dõi và quản lý luồng hàng qua kho lên báo cáo nhập xuất tồn hàng. Quản lý hàng.

3. Kế toán ngân hàng: Mở tài khoản tại ngân hàng, Căn cứ vào quy định của DN và ngân hàng mở tài khoản kế toán ngân hàng lập uỷ nhiệm chi, séc rút tiền, nộp tiền vào tài khoản. Căn cứ vào chứng từ ghi sổ theo dõi luồng tiền qua ngân hàng cuối tháng đối chiếu với sổ phụ ngân hàng và quản lý tiền tại ngân hàng.

images (1)

4. Kế toán thanh toán: Căn cứ vào quy định của DN kế toán thanh toán lập đề nghị, tạm ứng, hoàn ứng và thanh toán, căn cứ vào chứng từ mở sổ theo dõi các khoản tạm ứng thanh toán và đối chiếu công nợ.

5. Kế toán tiền lương: Căn cứ vào quy định của doanh nghiệp kế toán soạn thảo hợp đồng lao động, quản lý hợp đồng lao động. Xây dựng Quy chế lương và các tính lương và thanh toán lương, quản lý và theo dõi BHXH, BHYT, BHTN.

6. Kế toán bán hàng: Căn cứ vào quy định của DN, căn cứ vào yêu cầu lĩnh vực ngành nghề công ty kinh doanh kế toán lập hoá đơn hoá đơn, lập chứng từ bán hàng, tổng hợp doanh thu bán hàng báo cáo bán hàng.
7. Kế toán công nợ: Căn cứ hoá đơn bán hàng và chứng từ bán hàng, kế toán tổng hợp lên công nợ phải thu, phải trả, lập kế hoạch thu nợ, giãn nợ và kỹ năng đòi nợ, giãn nợ.

8. Kế toán tổng hợp: Phân loại chứng từ, phân tích chứng từ, cập nhật thông tin theo ngày lên báo cáo, lập báo cáo, phân tích số liệu cho ý kiến với ban quản lý tài chính hoặc kế toán trưởng.

9. Kế toán trưởng: Công việc của kế toán trưởng và phạm vi của kế toán trưởng, trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của kế toán trưởng.

10. Kiểm soát nội bộ: Công việc của kiểm soát nội bộ và các phạm vi của kiểm soát nội bộ.

Tuỳ thuộc vào doanh nghiệp lớn hay nhỏ để tuyển dụng và sắp xếp, phân chia công việc cho các thành viên trong bộ máy kế toán cho phù hợp.

Để có một bộ máy kế toán vận hành tốt tránh gian lận và sai sót thì kế toán trưởng hay trưởng phòng kế toán phải phân công công việc cho các thành viên theo nguyên tắc đan chéo.

Theo ketoanthucte.com

 

Nội Dung Ghi Trên Hóa Đơn GTGT

1. Tên loại hoá đơn

Tên loại hóa đơn thể hiện trên mỗi tờ hoá đơn. Ví dụ: hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng..

Trường hợp hoá đơn còn dùng như một chứng từ cụ thể cho công tác hạch toán kế toán hoặc bán hàng thì có thể đặt thêm tên khác kèm theo, nhưng phải ghi sau tên loại hoá đơn với cỡ chữ nhỏ hơn hoặc ghi trong ngoặc đơn. Ví dụ: hóa đơn GTGT, phiếu bảo hành…

Đối với hoá đơn xuất khẩu, thể hiện tên loại hoá đơn là HOÁ ĐƠN XUẤT KHẨU hoặc tên gọi khác theo thông lệ, tập quán thương mại. Ví dụ: HOÁ ĐƠN XUẤT KHẨU, INVOICE, COMMERCIAL INVOICE…

2. Ký hiệu mẫu số hóa đơn và ký hiệu hoá đơn.hóa đơn gtgt

Ký hiệu mẫu số hóa đơn là thông tin thể hiện ký hiệu tên loại hóa đơn, số liên, số thứ tự mẫu trong một loại hóa đơn (một loại hoá đơn có thể có nhiều mẫu).

Ký hiệu hoá đơn là dấu hiệu phân biệt hoá đơn bằng hệ thống chữ cái tiếng Việt và năm phát hành hoá đơn.
3. Tên liên hóa đơn
Liên hóa đơn là các tờ trong cùng một số hóa đơn. Mỗi số hoá đơn phải có từ 2 liên trở lên và tối đa không quá 9 liên, trong đó:

+ Liên 1: Lưu.

+ Liên 2: Giao cho người mua.

Các liên từ liên thứ 3 trở đi được đặt tên theo công dụng cụ thể mà người tạo hoá đơn quy định. Riêng hoá đơn do cơ quan thuế cấp lẻ phải có 3 liên, trong đó liên 3 là liên lưu tại cơ quan thuế.

4. Số thứ tự hoá đơn

Số thứ tự của hoá đơn là số thứ tự theo dãy số tự nhiên trong ký hiệu hoá đơn, gồm 7 chữ số trong một ký hiệu hóa đơn.

5. Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán;

6. Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua;

7. Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hoá, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ.

Đối với hóa đơn giá trị gia tăng, ngoài dòng đơn giá là giá chưa có thuế giá trị gia tăng, phải có dòng thuế suất thuế giá trị gia tăng, tiền thuế giá trị gia tăng, tổng số tiền phải thanh toán ghi bằng số và bằng chữ.

8. Người mua, người bán ký và ghi rõ họ tên, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hoá đơn.

9. Tên tổ chức nhận in hoá đơn

Đối với hoá đơn đặt in, trên hóa đơn phải thể hiện tên và mã số thuế của tổ chức nhận in trên từng tờ hoá đơn, bao gồm cả trường hợp tổ chức nhận in hóa đơn quyết định in hoá đơn để tự sử dụng.

10. Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ tiếng Việt. Chữ số ghi trên hóa đơn là các chữ số tự nhiên: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9; sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ phải đặt dấu chấm (.); nếu có ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị.

Mỗi mẫu hoá đơn sử dụng của một tổ chức, cá nhân phải có cùng kích thước.

Đối với hoá đơn xuất khẩu, nội dung đã lập trên hoá đơn xuất khẩu phải bao gồm: số thứ tự hoá đơn; tên, địa chỉ đơn vị xuất khẩu; tên, địa chỉ đơn vị nhập khẩu; tên hàng hoá, dịch vụ, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền, chữ ký của đơn vị xuất khẩu (mẫu số 5.4 Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này). Trường hợp trên hoá đơn xuất khẩu chỉ sử dụng một ngôn ngữ thì sử dụng tiếng Anh. Tổ chức, cá nhân được sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng cho hoạt động bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu theo quy định của pháp luật về thương mại.

Ví dụ: – Doanh nghiệp A là doanh nghiệp vừa có hoạt động bán hàng trong nước vừa có hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài. Doanh nghiệp A sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng cho hoạt động bán hàng trong nước. Đối với hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài, doanh nghiệp A sử dụng hoá đơn xuất khẩu với các tiêu thức theo hướng dẫn trên.

- Doanh nghiệp B là doanh nghiệp vừa có hoạt động bán hàng trong nước vừa có hoạt động bán hàng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan. Doanh nghiệp B được sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng cho cả hai hoạt động trên.
Ngoài ra kế toán cần biết những nội dung không bắt buộc trên hóa đơn đã lập:
a) Ngoài nội dung bắt buộc theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể tạo thêm các thông tin khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh, kể cả tạo lô-gô, hình ảnh trang trí hoặc quảng cáo.

b) Cỡ chữ của các thông tin tạo thêm phải nhỏ hơn cỡ chữ nhỏ nhất của các nội dung bắt buộc.

c) Các thông tin tạo thêm phải đảm bảo phù hợp với pháp luật hiện hành, không che khuất, làm mờ các nội dung bắt buộc phải có trên hóa đơn.

3. Một số trường hợp hóa đơn không nhất thiết có đầy đủ các nội dung bắt buộc:

a) Tổ chức kinh doanh bán hàng hoá, dịch vụ có thể tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn không nhất thiết phải có chữ ký người mua, dấu của người bán trong trường hợp sau: hóa đơn điện; hóa đơn nước; hóa đơn dịch vụ viễn thông; hoá đơn dịch vụ ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện tự in theo hướng dẫn tại Thông tư này.

b) Các trường hợp sau không nhất thiết phải có đầy đủ các nội dung bắt buộc, trừ trường hợp nếu người mua là đơn vị kế toán yêu cầu người bán phải lập hoá đơn có đầy đủ các nội dung hướng dẫn tại khoản 1 Điều này:

- Hóa đơn tự in của tổ chức kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại được thành lập theo quy định của pháp luật không nhất thiết phải có tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký của người mua, dấu của người bán.

- Đối với tem, vé: Trên tem, vé có mệnh giá in sẵn không nhất thiết phải có chữ ký người bán, dấu của người bán; tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký người mua.

Nguồn : Saga.com

 

Một số vấn đề về mô hình hạch toán chi phí theo hoạt động (activity-based costing- abc) trong kế toán quản trị chi phí

Giới thiệu chung về phương pháp ABC

ABC lần đầu tiên được định nghĩa một cách rõ ràng bởi Robert S. Kaplan, cha đẻ của lý thuyết Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard), và W. Bruns trong một chương của cuốn sách “Accounting and Management: A field Study Perspective” vào năm 1987. Nhưng một năm sau đó, Robin Cooper và Robert S. Kaplan mới thực sự khiến cho mọi người chú ý đến ABC khi đề cập đến nó trong một bài báo được xuất bản trên tạp chí khoa học của trường Havard vào năm 1988. Trong bài báo này, Cooper và Kaplan đã mô tả ABC như một cách tiếp cận mới để giải quyết những khiếm khuyết của hệ thống quản lý chi phí truyền thống. Hai ông đã chỉ ra ba nguyên nhân dẫn đến việc phải thay đổi hệ thống hạch toán chi phí truyền.

Một là, sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu chi phí, khiến cho chi phí trực tiếp ngày càng giảm trong khi chi phí gián tiếp ngày càng tăng.

Hai là, môi trường cạnh tranh toàn cầu liên tục biến đổi và ngày càng gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có hệ thống thông tin quản trị chính xác, kịp thời, liên tục cập nhật để hạn chế các phí tổn cũng như chớp được cơ hội kinh doanh.

Ba là, chi phí để tính toán, đo lường và tập hợp thông tin ngày càng giảm cho phép doanh nghiệp áp dụng các mô hình quản trị mới đòi hỏi nhiều thông tin đầu vào và đồng thời cung cấp nhiều thông tin chi tiết đầu ra hữu ích với mức chi phí chấp nhận được.

Những hạn chế của phương pháp hạch toán chi phí truyền thống

Theo quan điểm truyền thống, giá thành sản xuất của sản phẩm do ba yếu tố cấu thành là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Dựa vào thông tin giá thành này, các nhà quản lý sẽ đề ra các quyết định về loại sản phẩm, số lượng sản phẩm cần sản xuất. Tuy nhiên, để có thể ra được quyết định đúng đắn, nhà quản lý cần thông tin về giá thành toàn bộ chứ không chỉ là giá thành công xưởng. Nghĩa là trong yếu tố giá thành, ngoài chi phí sản xuất còn phải tính đến các chi phí phụ trợ như chi phí bán hàng và chi phí quản lý. Tuy nhiên, phương pháp tính phí truyền thống lại bỏ qua vấn đề này.

Mặt khác, trước đây, khi nền kinh tế còn kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp vẫn coi sản phẩm là đối tượng trung tâm trong việc phân bổ chi phí. Một thực tế nảy sinh là trong nhiều doanh nghiệp, việc sản xuất sản phẩm không phải là nguyên nhân chính làm phát sinh chi phí. Một doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những khoản chi phí rất lớn do công tác quản trị không hiệu quả hoặc do tình trạng sản xuất thừa hoặc do những hoạt động phụ trợ như nghiên cứu và phát triển sản phẩm, duy trì mối quan hệ với nhà cung cấp, hoạt động marketing…

Sự phát triển của khoa học công nghệ khiến cho tỷ trọng chi phí gián tiếp trong tổng chi phí ngày một lớn. Điều này đặt ra một nhu cầu phân bổ chi phí gián tiếp cho từng loại/nhóm sản phẩm hoặc khách hàng thật chính xác để có thể xác định được đâu là loại/nhhóm sản phẩm hoặc khách hàng thực sự đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo phương pháp truyền thống, chi phí gián tiếp thường được phân bổ cho sản phẩm hoặc khách hàng dựa trên  tiêu thức phân bổ đơn lẻ, ví dụ theo giờ lao động của nhân công trực tiếp. Việc làm này không thể hiện được chính xác sự đóng góp của chi phí gián tiếp vào việc tạo ra sản phẩm/dịch vụ vì chi phí gián tiếp có nhiều khoản mục với bản chất khác nhau và có mức độ, vai trò đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm/dịch vụ.

Như vậy, phương pháp ABC khác với phương pháp truyền thống ở hai điểm.

Thứ nhất, phương pháp truyền thống tập trung vào đánh giá hàng tồn kho và các chi phí liên quan trong giới hạn phân xưởng. Ngược lại, phương pháp ABC tập trung đánh giá theo hoạt động, do đó tính đến cả các chi phí ngoài phạm vi phân xưởng như chi phí quản lý, chi phí bán hàng.

Thứ hai, phương pháp truyền thống chỉ sử dụng một hoặc hai tiêu thức phân bổ chi phí đơn lẻ và thường không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với việc phát sinh chi phí. Ngược lại, ABC lại sử dụng các hoạt động với rất nhiều tiêu thức phân bổ linh hoạt để kết nối sản phẩm với chi phí cần phân bổ. Vì thế ABC cho ta thấy bản chất của quá trình phát sinh chi phí.

Ưu điểm của phương pháp ABC

Mục đích của ABC là nhằm cải tiến và thay đổi doanh nghiệp một cách linh hoạt, đáp ứng các thách thức và biến động liên tục của thị trường. Một khi doanh nghiệp triển khai được mô hình ABC thì nó sẽ có được lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thị trường.

Phương pháp ABC cung cấp cho nhà quản lý thông tin giá thành toàn bộ, tức là có tính đến các chi phí sản xuất kinh doanh nói chung như chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh  nghiệp chứ không chỉ bó hẹp ở khái niệm giá thành sản xuất. Điều này giúp cho nhà quản lý không nhìn nhận sai lầm về mức lợi nhuận mà một sản phẩm/ dịch vụ cụ thể đem lại và do đó tránh được những sai lầm trong việc ra quyết định.

Ngoài ra, ABC sử dụng một hệ thống các tiêu chí phân bổ tương ứng với từng hoạt động cụ thể. Những tiêu chi phí phân bổ này cho thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa chi phí phát sinh cho từng hoạt động và mức độ tham gia của từng hoạt động và quá trình sản xuất kinh doanh. Với hệ thống tiêu thức phân bổ chính xác và đầy đủ này, kế toán có thể phản ánh chính xác hơn mức độ tiêu hao nguồn lực thực tế của từng loại sản phẩm/dịch vụ.

Trải qua gần 30 năm tồn tại và phát triển, phương pháp ABC đã dần khẳng định vai trò là một phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí chính xác. Nó còn là nền tảng để phát triển mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại ABM (Acitvity- based Management).

Nhược điểm của phương pháp ABC

Thực tế là bên cạnh những ưu điểm nổi bật đã phân tích ở trên, phương pháp ABC không phải là không có nhược điểm. Những hạn chế của phương pháp ABC thường được đề cập đến là:

Để có được hệ thống ABC, doanh nghiệp phải tiêu tốn rất nhiều nguồn lực từ thiết kế, xây dựng đến khâu triển khai. Thông tin đầu vào của phương pháp ABC liên quan đến rất nhiều hoạt động vì vậy sẽ mất rất nhiều công sức để thu thập, kiểm tra và nhập dữ liệu thông tin vào hệ thống.

Thông tin do phương pháp ABC cung cấp về sản phẩm thường không đồng nhất với thông tin của hệ thống hạch toán chi phí truyền thống. Mà trong thực tế, các nhà quản trị thường quen sử dụng thông tin của hệ thống hạch toán chi phí truyền thống trong việc đưa ra quyết định quản trị và dùng nó làm thước đo đánh giá kết quả hoạt động.

Thông tin của ABC dễ bị hiểu sai và do đó phải rất thận trọng khi sử dụng thông tin này để ra quyết định. Chi phí phân bổ cho sản phẩm, cho khách hàng, và cho các đối tượng chịu phí chỉ có khả năng phù hợp tương đối. Trước khi đưa ra bất cứ quyết định quan trọng nào sử dụng thông tin của ABC, các nhà quản trị phải cân nhắc mức độ thích đáng thực sự của thông tin tới việc ra quyết định này hay không.

Hệ thống báo cáo của ABC không tương thích với hệ thống báo cáo tài chính theo GAAP. Kết quả là nếu đơn vị sử dụng phương pháp ABC thì phải duy trì song song hai hệ thống hạch toán chi phí- một dùng lập báo cáo nội bộ, một dùng lập báo cáo tài chính thông thường.

Với những hạn chế này, sau gần 30 năm tồn tại, vẫn có nhiều luồng ý kiến tranh cãi về ưu nhược điểm của mô hình ABC. Thực tế trên thế giới, ví dụ như ở Nhật, các doanh nghiệp ít sử dụng phương pháp ABC mà chủ yếu sử dụng phương pháp tồn kho kịp thời (Just-in-time-JIT) trong quản trị chi phí; hoặc sau khi áp dụng mô hình ABC một thời gian nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang các hệ thống quản trị chi phí khác.

Vì vậy, ABC nên áp dụng vào ngành nghề kinh doanh nào cần phải dựa trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của mô hình này.Trong điều kiện nền kinh tế trong nước và thế giới đang rơi vào suy thoái, nhu cầu về tái cơ cấu doanh nghiệp, thu hẹp hoạt động sản xuất để tồn tại là một nhu cầu cấp bách. Việc có nên áp dụng phương pháp ABC vào đơn vị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng đây có thể là một gợi ý có giá trị thực tiễn.

Thạc sỹ: Nguyễn Thanh Huyền

Thạc sỹ: Nguyễn Thu Hoài

Theo: khoahockiemtoan.vn

Dính líu rửa tiền, Deloitte bị phạt 10 triệu đô la

Có nhiệm vụ giám sát chống rửa tiền tại Standard Chartered Bank, nhưng lại sửa chữa báo cáo theo ý ngân hàng này trước khi gửi cho cơ quan giám sát

Bộ phận Dịch vụ tư vấn tài chính của Deloitte còn bị cấm hành nghề trong vòng một năm tại bang New York.

Lãnh đạo Sở dịch vụ tài chính New York nói vụ này mới chỉ là khởi đầu trong đợt điều tra ngành tư vấn tài chính.

Lệnh cấm này không áp dụng với bộ phận kiểm toán của Deloitte.

Hồi tháng 8, Standard Charterd đồng ý nộp phạt 340 triệu USD cho bang New York vì vi phạm lệnh cấm vận với Iran và một số nước khác. Tới tháng 12, ngân hàng này lại phải nộp tiếp 327 triệu USD đề dàn xếp với các cơ quan chính phủ khác.

Khi tư vấn cho Standard Charterred, Deloitte đã bỏ qua nhiều thông tin trọng yếu trong báo cáo giám sát độc lập mà công ty tư vấn này gửi cho Sở Dịch vụ tài chính New York.

Deloitte còn vi phạm quy định về ngân hàng tại New York khi trao cho Standard Chartered nhiều báo cáo mật về các hành vi mờ ám của ngân hàng này với khách hàng.

Thỏa thuận dàn xếp viết cơ quan giám sát “không tìm thấy bằng chứng” cho thấy tư vấn viên của Deloitte cố ý trợ giúp hay lập kế hoạch cho hành vi rửa tiền của mình. Hồi tháng 8, Sở dịch vụ tài chính New York đã tuyên bố Standard Chartered phạm pháp là “rõ ràng là nhờ Deloitte trợ giúp”.

Deloitte nói họ hài lòng khi cơ quan giám sát không tìm thấy bằng chứng cho thấy công ty này “biết, trợ giúp hay che giấu hành vi phạm pháp” của Standar Chartered.

Thanh tra Benjamin Lawsky của Sở Dịch vụ tài chính New York nói sự vụ lần này với Deloitte chỉ là màn dạo đầu trong chuỗi điều tra với các công ty tư vấn.

Ông nói đây nên coi là hình mẫu cho các cơ quan khác thuộc chính phủ khi họ thuê tư vấn độc lập thực hiện công việc giám sát.

“Chúng tôi muốn đảm bảo các công ty tư vấn giữ được vị thế độc lập thay vì cúi đầu với tổ chức nào trả nhiều phí nhất,” Lawsky tuyên bố.

Deloitte được thuê làm tổ chức giám sát độc lập đối với chi nhánh New York của Standard Chartered sau khi ngân hàng này vi phạm một số quy định về chống rửa tiền.

Gọi là “độc lập”, nhưng Standard Chartered từng yêu cầu Deloitte xóa bớt một ý trong dự thảo báo cáo về cách ngân hàng biến hóa các giao dịch chuyển tiền để né hàng rào chống rửa tiền.

Trong một email do Sở Dịch vụ tài chính công bố năm ngoái, một thành viên điều hành (Partner) của Deloitte viết “chúng tôi đồng ý” với yêu cầu của Standard Chartered vì “quá căng thẳng và quá nhạy cảm đối với cả Standard Charterd và Deloitte. Thế nên tôi mới thảo một bản khác nhẹ nhàng hơn.”

Bên cạnh hai nộp tiền dàn xếp, Deloitte còn đồng ý bổ sung thêm các biện pháp phòng ngừa khi tư vấn cho các tổ chức tài chính.

Cụ thể, họ sẽ công khai tất cả những việc đã làm với các tổ chức tài chính trong vòng ba năm qua, ký thư cam kết sẽ đưa ra các đánh giá độc lập, và cung cấp danh sách những người đã duyệt các báo cáo tư vấn.

Sở Dịch vụ tài chính New York sau sáu tháng tới họ sẽ xem xét hủy lệnh cấm ký thêm hợp đồng tư vấn mới trong vòng một năm.

Khoản dàn xếp 10 triệu USD với bang New York lớn gấp đôi số phí Deloitte nhận được khi làm giám sát độc lập cho Standard Chartered.

Tuy thế, lệnh cấm hành nghề trong vòng một năm đối với Khối Tư vấn tài chính của Deloitte không ảnh hưởng mấy tới toàn công ty vì bộ phận này chỉ chiếm có 5% trong 13 tỷ USD doanh thu năm vừa rồi của Deloitte Hoa Kỳ.

Thu Hà

Nguôn: Cafef.vn

Phân biệt kế toán quản trị, kế toán tài chính và kế toán tổng hợp

 

Theo phần đa chuyên gia kinh tế,  Kế toán gồm 4 bộ phận:

·         Lý thuyết hạch toán kế toán

·         Kế toán tài chính

·         Kế toán quản trị

·         Kiểm toán.

 

Kế toán quản trị và kế toán tài chính được coi là bộ phận hữu cơ của kế toán doanh nghiệp.

Vậy Kế toán quản trị và kế toán tài chính là gì?

Chúng có mối quan hệ với nhau như  thế nào?

Kế toán tài chính có phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị có phải là kế toán chi tiết hay không?

 

1. ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

Kế toán được định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

a.        Kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất:

Phải sản xuất những sản phẩm nào? Phương thức sản xuất? Cách thức bán ra? Giá cả? Nguồn nhân lực được phân phối thực hiện hiệu quả nhất?

-          Các loại quyết định: quyết định mang tính ngắn hạn và quyết định mang tính dài hạn.

Quyết định mang tính chất ngắn hạn: giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế trong thời kỳ ngắn hạn.

Ví dụ: Trong trường hợp nào doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn giá ở điểm hoà vốn? Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên tự chế hay đi mua một vài bộ phận của sản phẩm?

Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên bán ra bán thành phẩm thay vì tiếp tục hoàn thiện thành sản phẩm cuối cùng?

Quyết định mang tính dài hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn như:

Trong trường hợp nào doanh nghiệp quyết định thay thế mua sắm thêm các máy móc thiết bị hay thực hiện phát triển thêm lĩnh vực kinh doanh.

b.      Kế toán tài chính phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài.

Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê.

4

 

2. SO SÁNH KẾ TOÁN TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

2.1. Giống nhau:

Chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn.

Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết.

Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.

 

2.2. Khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

* Mục đích:

- Kế toán quản trị: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.

 

* Đối tượng phục vụ:

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc)

- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

 

* Đặc điểm của thông tin:

- Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật.

Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư.

- Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

 

* Nguyên tắc cung cấp thông tin:

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.

- Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.

 

* Phạm vi của thông tin:

- Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan.

- Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp.

 

* Kỳ báo cáo:

- Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày.

- Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

 

* Quan hệ với các môn khoa học khác:

Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác. Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.

 

* Tính bắt buộc theo luật định:

- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc.

- Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định. Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành).

 

3. KẾ TOÁN TÀI CHÍNH LÀ KẾ TOÁN TỔNG HỢP VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ LÀ KẾ TOÁN CHI TIẾT ?

Để hiểu rõ và tránh nhầm lẫn về các “thuật ngữ” trên ta cần phân tích mối quan hệ giữa kế toán tài chính với kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.

Kế toán tài chính và kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm trình bày các số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác kế toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính.

 

Kế toán tài chính và kế toán chi tiết:  Kế toán chi tiết là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng minh các số liệu ghi trong tài khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo kế toán, đây cũng là công việc phải làm trước khi khoá sổ kế toán để quyết toán.

Thuật ngữ thông thường  gọi là đối chiếu giữa tổng hợp và chi tiết.

Ví dụ: Như việc thực hiện đối chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách hàng, đối chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết công nợ của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu tài khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư, đối chiếu tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang với thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm.

Tóm lại trong kế toán tài chính bao giờ cũng có kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết,

vì vậy kế toán tài chính không phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết.

Nguồn: webketoan.com