Ai sẽ kiểm toán các công ty kiểm toán?

Ngành kiểm toán Việt Nam đang phát triển mạnh, nhưng việc giảm thiểu vi phạm đạo đức nghề nghiệp vẫn đang còn là một dấu hỏi
35924

Ông Chaly Mah, Tổng giám đốc Deloitte khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Chaly Mah, Tổng giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của tập đoàn kiểm toán Deloitte.
Việt Nam có ý nghĩa chiến lược như thế nào trong định vị thị trường của các ông?

Deloitte đã xác định 8 thị trường quan trọng nhất, bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Trung Đông, Nga, Nhật, Brazil và Đức. Đối với khu vực Đông Nam Á thì Indonesia và Việt Nam là hai thị trường chiến lược chúng tôi đặc biệt quan tâm.

Với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam, trong đó có thị trường tài chính, thị trường vốn, chúng tôi nhận thấy ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu huy động vốn ở các thị trường vốn quốc tế. Khi đó, họ phải có hệ thống quản trị doanh nghiệp cũng như hệ thống kiểm soát tốt. Do vậy, Deloitte Việt Nam sẽ tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp này nâng cao năng lực kiểm soát, quản trị.

Cùng với 3 đơn vị khác, Deloitte Việt Nam đang đứng trong nhóm “Big Four”, chiếm giữ phần lớn thị phần. Liệu đã có ai thắc mắc rằng phải chăng nhóm này đang giữ vị thế độc quyền trên thị trường kiểm toán?

Tôi không nghĩ là khi chiếm thị phần lớn lại đồng nghĩa với độc quyền.

Ngược lại, cả 4 công ty lớn còn có nhiều đóng góp để thúc đẩy sự phát triển của thị trường kiểm toán Việt Nam. Trong thời gian tới, việc tìm kiếm các nguồn vốn từ thị trường quốc tế không chỉ dừng ở các doanh nghiệp nhà nước mà còn mở rộng sang khu vực tư nhân, vì thế, vai trò của nhóm “Big Four” là rất lớn.

Một bằng chứng khác về đóng góp của chúng tôi đối với thị trường tài chính Việt Nam là gần đây, Deloitte Việt Nam đã hỗ trợ Bộ Tài chính xây dựng Luật Kiểm toán độc lập, hỗ trợ Hiệp hội Kiểm toán về mặt nghiệp vụ kiểm toán.

Để thu hút khách hàng, đã có những biểu hiện vi phạm đạo đức nghề nghiệp ở một số công ty kiểm toán. Làm thế nào để có được những báo cáo tài chính “quang minh chính đại” cho nhà đầu tư, thưa ông?

Liên quan đến đạo đức nghề nghiệp, ở đây bạn sẽ thấy có sự khác biệt giữa nhóm “Big Four” và các công ty khác. Chúng tôi luôn tuân thủ yếu tố đạo đức nghề nghiệp và có hẳn một bộ chuẩn bắt buộc tuân thủ trong toàn hệ thống trên thế giới.

Tôi cũng không có ý định chỉ trích các công ty kiểm toán nhỏ, ở thị trường nào cũng có công ty lớn, công ty nhỏ. Vai trò của công ty nhỏ là hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ về thuế, chuẩn bị các báo cáo tài chính, còn việc ra các báo cáo tài chính thì phải do các công ty lớn đảm nhiệm.

Tuy nhiên, do các công ty nhỏ chưa xây dựng được các bộ chuẩn tiêu chí hành nghề nên đôi khi vẫn còn xảy ra trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Đó là lý do tại sao gần đây chúng ta thấy có khá nhiều trường hợp sáp nhập của các công ty nhỏ trong thị trường kiểm toán – tư vấn.

Cũng liên quan đến những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp của công ty kiểm toán, tôi cho rằng, càng ngày, tính chuyên nghiệp của thị trường kiểm toán càng phát triển và cùng đó, hành lang pháp lý cũng càng ngày càng theo sát với tình hình.

Vì vậy, đừng ngạc nhiên, một ngày gần đây, ở đâu đó, cơ quan quản lý có thể rút giấy phép hành nghề những trường hợp vi phạm đạo đức như ở Mỹ hay châu Âu.

Doanh nghiệp kiểm toán thì được phép kiểm toán các công ty, nhưng ai sẽ “kiểm toán” các công ty kiểm toán?

Cũng như ở thị trường các nước phát triển, hoạt động của công ty kiểm toán phải tuân thủ các văn bản pháp quy cũng như điều hành của các cơ quan lý. Những cơ quan này trực thuộc Bộ Tài chính và hàng năm, họ đều kiểm tra hoạt động doanh nghiệp kiểm toán.

Nếu phát hiện những trường hợp không đảm bảo chất lượng dịch vụ hoặc không tuân thủ quy định, cơ quan quản lý sẽ đưa ra các cảnh báo, xử phạt hoặc rút giấy phép.

Ở các nước phát triển, luôn có các ủy ban quản lý các công ty kiểm toán, và giấy phép hành nghề được xem xét để cấp lại hàng năm, nếu vi phạm, có thể không được cấp.

Đối với những công ty kiểm toán lớn, họ luôn duy trì chế độ kiểm soát nội bộ. Cứ 2 đến 3 năm, họ đều cử các chuyên gia ở các nước khác sang Việt Nam soát xét lại các hoạt động cũng như hồ sơ kiểm toán.

Ngay cả với Deloitte cũng vậy. Nếu Deloitte Việt Nam không vượt qua được các cuộc soát xét thì Deloitte sẽ tăng tần suất soát xét lên hàng năm thay vì 2-3 năm/lần như trước nhằm đảm bảo khắc phục bằng được những lỗi trong hệ thống.

Nếu năm sau không khắc phục được lỗi của năm trước, chúng tôi sẽ tiếp tục gửi cảnh báo về những lỗi của công ty thành viên và đến năm thứ 3, những lỗi đó không được khắc phục thì chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp xử lý nghiêm khắc, chẳng hạn, không cho phép đơn vị thành viên sử dụng thương hiệu của Deloitte và loại họ ra khỏi hệ thống Deloitte toàn cầu.

Nhân lực kiểm toán đang là bài toán nan giải hiện nay ở thị trường Việt Nam, theo ông, làm thế nào để giải quyết khó khăn này?

Thiếu nhân lực kiểm toán đang xảy ra ở hầu hết các nước đang phát triển. Tôi cho rằng, ngành giáo dục của Việt Nam nên nhìn thấy xu hướng này để mở rộng quy mô đào tạo đủ lớn ở các trường đại học, đáp ứng đủ về số lượng, chất lượng cho nhu cầu thị trường.

Ngoài ra, còn rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học ở nước ngoài và được đào tạo trong một môi trường rất tốt. Deloitte đã phát triển một chương trình kết nối việc làm khá tốt cho những sinh viên này. Theo đó, trong một vài năm đầu tuyển dụng, chúng tôi cho họ làm việc ở nước ngoài, sau đó, chuyển về Việt Nam.

Ở Trung Quốc chúng tôi cũng làm như vậy. Hiện tại, ở Trung Quốc, Deloitte có tới 8.000 nhân lực và mỗi năm phải tuyển thêm 2.000 sinh viên. Khi trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu, chúng tôi tuyển sinh viên đang học ở nước ngoài, cho họ làm việc tại các nước một thời gian trước khi đưa về Trung Quốc.

Một vấn đề khác, mặc dù kiểm toán nội bộ được coi là bộ phận kiểm soát, cảnh báo rủi ro rất tốt cho doanh nghiệp nhưng hiện tại, bộ phận này đang tồn tại theo kiểu “không có thì thiếu, có thì thừa”. Ý kiến ông về vấn đề này như thế nào?

Kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Hoạt động kiểm toán nội bộ phần lớn chỉ tập trung vào các khía cạnh liên quan đến quản trị hoạt động, chẳng hạn như đảm bảo các quy trình, quy định trong công ty đảm bảo được tuân thủ đúng. Trong khi đó, kiểm toán độc lập chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến tài chính.

Vấn đề “không có thì thiếu, có thì thừa” không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước. Rất nhiều trường hợp, kiểm toán nội bộ không được độc lập, vì họ là nhân viên công ty đó.

Có một cách để khắc phục được nhược điểm này là nên tham khảo cách làm ở một số nước.

Tại Singapore, Hồng Kông, châu Âu hay Mỹ, một doanh nghiệp niêm yết bắt buộc phải có thành viên hội đồng quản trị độc lập, không phải cổ đông, không nằm trong ban điều hành. Trong hội đồng quản trị có một ủy ban kiểm toán trực thuộc và bộ phận kiểm toán độc lập trong doanh nghiệp phải báo cáo trực tiếp tình hình hoạt động doanh nghiệp cho ủy ban kiểm toán nói trên.

Một điều cần lưu ý là thành viên độc lập hội đồng quản trị sẽ trực tiếp phụ trách Ủy ban kiểm toán. Vì thế, những báo cáo, những phát hiện chính của kiểm toán nội bộ luôn được thông tin kịp thời cho ủy ban kiểm toán. Với cơ chế này, đã tạo ra một kênh báo cáo rất độc lập, và phát huy được tác dụng của kiểm toán nội bộ.

Doanh nhân gốc Việt muốn ‘nuốt gọn’ hãng Dell

Ông Chinh E. Chu, một người Mỹ gốc Việt, được trao cương vị dẫn đầu những nỗ lực của quỹ đầu tư nổi tiếng Blackstone nhằm thâu tóm tập đoàn máy tính Dell.
Giới thiệu về ông Chinh E. Chu trên website của Blackstone – Ảnh chụp từ màn hình.

Cuộc chiến giành giật Dell đang ngày càng nóng, và có nguy cơ khiến người sáng lập hãng, ông Michael Dell, mất ghế Giám đốc điều hành (CEO). Hồi đầu tháng 2 năm nay, Michael Dell lên kế hoạch đưa hãng máy tính “con đẻ” của ông từ một công ty đại chúng niêm yết trên sàn chứng khoán trở thành một công ty tư nhân. Theo đó, một liên minh giữa Michael Dell, quỹ đầu tư Silver Lake Partners, hãng phần mềm Microsoft, và một số ngân hàng nhất trí mua lại toàn bộ Dell với mức giá 24,4 tỷ USD. Michael Dell hiện nắm 14% cổ phần của hãng máy tính mà ông thành lập vào năm 1984.
Giới thiệu về ông Chinh E. Chu trên website của Blackstone – Ảnh chụp từ màn hình.

Tuy ngành công nghiệp máy tính cá nhân (PC) mà Dell là một trong những hãng dẫn đầu đang gặp vô vàn khó khăn, thương vụ Dell đã ngay lập tức thu hút sự chú ý lớn của giới đầu tư. Không để Michael Dell và các đồng minh kịp hoàn thành mục tiêu kiểm soát toàn bộ Dell, một loạt “gã khổng lồ” khác đã ngay lập tức nhảy vào cuộc, trong đó mạnh nhất là quỹ đầu tư cổ phần tư nhân Blackstone và nhà đầu tư tỷ phú Carl Icahn.

Theo tờ New York Times, Blackstone ra giá 14,25 USD/cổ phiếu đối với cổ phiếu của Dell. Các “đồng minh” cùng tham gia với Blackstone trong thương vụ này còn có những quỹ “sừng sỏ” khác gồm Francisco Partners và Insight Venture Partners.

“Thuyền trưởng” dẫn đầu nhóm Blackstone thực hiện vụ thâu tóm này là ông Chinh E. Chu, một thành viên cao cấp có vai trò điều hành trong Hội đồng Quản trị, kiêm đồng Chủ tịch của quỹ. Sát cánh bên Chinh E. Chu trong nhiệm vụ lớn này là David Johnson, người trước đây là Phó chủ tịch cấp cao phụ trách về chiến lược công ty của Dell, và mới sang làm cho Blackstone từ đầu năm.

Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, ông Chinh E. Chu là một nhân vật nổi tiếng. Ông là một trong số ít Việt kiều sở hữu tài sản “tỷ đô”. Ông từng được tạp chí uy tín Forbes đưa vào danh sách những nhà quản lý quỹ đầu tư cổ phần tư nhân xuất sắc, với lời giới thiệu rằng, ông rất yêu thích các cổ phiếu thuộc lĩnh vực hóa chất và dược phẩm. Một số tờ báo ước tính, giá trị tài sản của Chinh E. Chu lên tới 1,1 tỷ USD.

Hồ sơ cá nhân của ông Chinh E. Chu trên website của Blackstone giới thiệu ông đã dẫn đầu một loạt vụ thâu tóm lớn của quỹ này như DJ Orthopedics, Biomet, Catalent Pharma Solutions, Alliant, ReAble Therapeutics, Celanese, Nalco, SunGard Data Systems, Nycomed, và LIFFE. Ngoài ra, ông còn tham gia vào các vụ đầu tư của Blackstone vào một loạt công ty bao gồm FGIC, Graham Packaging, Sirius Satellite Radio, StorageApps, Haynes International, Prime Succession/Rose Hills, Interstate Hotels, HFS và Alco Holdings.

Chinh E. Chu có bằng cử nhân tài chính của Đại học Buffalo, một trường ít nổi của Mỹ. Tuy nhiên, với cương vị ở Blackstone, hiện ông giữ vai trò thành viên hội đồng quản trị của rất nhiều công ty mà quỹ này đầu tư vào, bao gồm Alliant, BankUnited, BayView Financial, Healthmarkets, DJO Incorporated, Catalent Pharma Solutions, SunGard, Graham Packaging.

Một số nguồn cho biết, vợ của Chinh E. Chu là ca sỹ Hà Phương, em gái của ca sỹ Cẩm Ly. Chinh E. Chu còn nổi tiếng khi vào năm 2007, ông chi 34 triệu USD để mua toàn bộ tầng 89 và nửa tầng 90 của tòa nhà Trump World Tower ở New York. Căn hộ này của ông có tổng cộng 34 phòng, 12 phòng ngủ và 16,5 phòng tắm, với tổng diện tích gần 1.400 m2.

Chinh E. Chu được cho là đã muốn mua hết cả tầng 90 của tòa nhà, và ông đã cố gắng đàm phán với người hàng xóm ở tầng này, nhưng những nỗ lực của ông không thành công.

Trước khi bắt đầu sự nghiệp tại Blackstone vào năm 1990, Chinh E. Chu đã có một thời gian làm việc trong bộ phận M&A (mua bán và sáp nhập) của Salomon Brothers – ngân hàng mà trước đây nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett từng làm việc.

Trong giới đầu tư cổ phần tư nhân, Blackstone được xem là một “ngôi sao sáng”. Tập đoàn này được thành lập năm 1985 bởi cựu Bộ trưởng Thương mại Mỹ Pete Peterson và ông Stephen Schwarzman. Năm 2007, công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) và thu về số tiền 4 tỷ USD. Tính đến cuối năm ngoái, tổng tài sản do công ty này quản lý là 210 tỷ USD.

Hiện tại rất thành công và giàu có, nhưng Chinh E. Chu từng có lần tiết lộ rằng, khi mới ra trường, ông rất khó xin việc. Ông đã gửi 15 bộ hồ sơ xin việc tới các công ty Phố Wall, nhưng đều bị loại. Chính khó khăn này khiến quyết tâm của ông càng thêm lớn.

Theo trang Celebrity Networth, vào năm 2004, Blackstone hoàn tất vụ thâu tóm doanh nghiệp để đưa công ty đại chúng trở thành tư nhân lớn nhất trong lịch sử ở châu Âu. Đó là thương vụ thâu tóm công ty hóa chất Celanese. Thành công có được của Blackstone trong vụ này là nhờ những nỗ lực đàm phán và tài thao lược kinh doanh của Chinh E. Chu.

Trở lại với thương vụ Dell, theo như đề xuất mà Blackstone đưa ra, thì các nhà đầu tư muốn tiếp tục nắm giữ cổ phần của Dell có thể làm vậy. Tuy nhiên, Blackstone chưa nêu cụ thể tỷ lệ cổ phần của Dell mà họ sẽ để lại trong giao dịch đại chúng trong trường hợp nắm được quyền kiểm soát hãng máy tính này.

Theo một số nguồn tin, hiện Blackstone đã có cuộc đàm phán với một vài trong số những cổ đông lớn nhất của Dell về đề xuất thâu tóm. Nguồn tài chính cho thương vụ có thể sẽ do ngân hàng Morgan Stanley sắp xếp cho Blackstone.

Mức giá mà Blackstone đưa ra để mua Dell là hấp dẫn hơn mức giá mà chính nhà sáng lập Dell đưa ra. Nhóm của Michael Dell muốn giành toàn bộ quyền kiểm soát hãng với mức giá 13,65 USD/cổ phiếu. Để có tiền cho vụ này, Michael Dell dự định vay 2 tỷ USD từ Microsoft. Bản thân ông sẽ đóng góp mức cổ phần 16% bên cạnh khoản tiền 750 triệu USD. Ngoài ra, quỹ Silver Lake sẽ đóng góp 1,4 tỷ USD.

Kế hoạch đưa Dell trở thành công ty tư nhân đã đẩy Michael Dell vào thế “cưỡi lên lưng hổ”. Rất có thể ông sẽ không còn giữ được ghế CEO của tập đoàn này nếu hãng Dell rơi vào tay Blackstone hoặc một nhà đầu tư khác đang tham gia cuộc đua là tỷ phú Carl Icahn.

Icahn từ lâu đã được mệnh danh là “kẻ cướp công ty” ở Phố Wall, người chuyên giành giật trong các vụ thâu tóm bằng chiến lược không hòa bình (hostile takeover) – không được sự nhất trí của ban lãnh đạo và hội đồng quản trị công ty bị thâu tóm.

Icahn hiện nắm 80 triệu cổ phiếu của Dell, với trị giá do ông ước tính vào khoảng 1 tỷ USD. Theo kế hoạch của Icahn, ông sẽ thâu tóm khoảng 28,1% của Dell, và để phần còn lại tiếp tục giao dịch đại chúng.

Tuy nhiên, ưu thế trong cuộc đua thâu tóm Dell có vẻ như đang nghiêng về Blackstone. Thấy trước được nguy cơ bị mất ghế CEO, Michael Dell mới đây đã bí mật gặp Chinh E. Chu để đưa ra một kế hoạch thỏa hiệp. Theo một số nguồn thân cận, Michael Dell đề xuất sẽ không bán cổ phần của mình và sẽ đứng về phía Blackstone, với điều kiện ông được giữ ghế CEO. Mặc dù vậy, Blackstone đã tính tới khả năng đưa Mark Hurd, cựu CEO của HP và hiện là Chủ tịch Oracle, về thay thế Michael Dell.
Theo yahoo.com


Tổng quan về chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán Việt Nam

Hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASs/IFRSs) được soạn thảo bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao. IASs/IFRSs được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và nhiều quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia khác của châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác nhau nếu có.

Khác với hệ thống kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống kế toán quốc tế (IAS) không có sự bắt buộc mang tính hình thức (như biểu mẫu báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất). IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính nhưng IAS không bắt buộc phải sử dụng chung các biểu mẫu báo cáo tài chính, hệ thống tài khoản, các hệ thống chứng từ, sổ kế toán. IAS có bộ khung khái niệm và tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực. VAS còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, thiếu nhiều vấn đề và đặc biệt là còn mâu thuẫn giữa các chuẩn mực hoặc sự không thống nhất giữa chuẩn mực và hướng dẫn về chuẩn mực đó.

Hầu hết những người đã được học và/hoặc làm theo các hệ thống kế toán quốc tế hay mang tính thông lệ quốc tế đều cho rằng, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ nên mang tính hướng dẫn mà không nên mang tính bắt buộc. Thông lệ kế toán quốc tế cho phép ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản, tuy nhiên không nên lạm dụng việc ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có để mất đi tính rõ ràng của kế toán. Mặc dù không có văn bản pháp quy nào quy định cấm ghi nhiều Nợ đối ứng với nhiều Có trong cùng một định khoản kế toán, nhưng theo một thói quen từ xưa, rất nhiều DN Việt Nam vẫn tuân theo nguyên tắc này. Tuy nhiên, nhiều DN nước ngoài tại Việt Nam lại không áp dụng.

Hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của Việt Nam chỉ quan tâm chủ yếu đến thông tin của báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư chứ chưa quan tâm đến thông tin quản trị nội bộ. Theo thông lệ quốc tế, tên gọi tài khoản chính là tên gọi ngắn gọn của số dư tài khoản hay chỉ tiêu cần quản lý. Không ghép chung nhiều chỉ tiêu khác nhau vào chung một tài khoản. Các chỉ tiêu khác nhau phải được ghi chép và báo cáo theo các tài khoản riêng biệt.

So sánh bảng cân đối kế toán

IAS khác VAS trong hầu hết khoản mục của bảng cân đối kế toán như kế toán tiền, DN ghi độc lập với ngân hàng. Các khoản phải thu thương mại tách biệt với các khoản phải thu từ bán tài sản cố định (TSCĐ). Giá thành phẩm được tính theo phương pháp giá thành thông thường hơn là thực tế và nó không chấp nhận phương pháp LIFO. Các tài sản sinh vật và sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ các tài sản sinh vật được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí điểm bán hàng ước tính. Các khoản chứng khoán thương mại ngắn hạn được ghi nhận theo giá trị hợp lý (giá thị trường) cuối mỗi kỳ, chênh lệch được ghi vào lãi lỗ chưa thực hiện trên báo cáo kết quả. Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũng được điều chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ. Việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu không ghi tăng thu nhập mà chỉ thuần túy ghi bút toán ghi nhớ làm tăng số lượng cổ phiếu lên, đồng thời giảm đơn giá vốn nhưng tổng giá vốn không đổi.

Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu hao chiết khấu (phụ trội). Đầu tư vào công ty liên doanh được hợp nhất theo phương pháp hợp nhất tương ứng, giải pháp thay thế là theo phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ đưa ra phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp hợp nhất tương ứng khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo. Nó không có lợi ích thiểu số (minority interests). Việc hợp nhất các báo cáo tài chính bắt buộc thực hiện cho cả báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ.

TSCĐ có thể lựa chọn mô hình giá phí hoặc áp dụng mô hình giá trị hợp lý nếu nó có thể đo lường một cách đáng tin cậy. Chênh lệch giá trị hợp lý giữa các kỳ được ghi vào vốn chủ sở hữu. Riêng đối với bất động sản đầu tư, chênh lệch này được phép ghi vào lãi lỗ trên báo cáo kết quả. Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp lý, trong phần thuyết minh, DN vẫn phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư có thể tự đánh giá và so sánh. TSCĐ được cho tặng ghi vào thu nhập phần phù hợp với chi phí để nhận được tiền cho tặng đó (phần khấu hao của kỳ đó chẳng hạn). Khi tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình và tài chính bị giảm giá trị, IAS yêu cầu ghi nhận ngay vào chi phí. Theo IAS, đất đai thuộc tài sản hữu hình. Các khoản phải trả thương mại được tách biệt với các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ hay mua tài sản tài chính. Khoản phải trả bao gồm cả các khoản thưởng và chi phí phúc lợi cho nhân viên. Vốn chủ sở hữu không bao gồm các quỹ khen thưởng, phúc lợi (Theo VAS trước ngày 31.12.2009 quỹ khen thưởng phúc lợi nằm trong mục lớn Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31.12.2009 quy định vấn đề này giống như IAS). Các khoản đánh giá lại tài sản được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu.

So sánh báo cáo kết quả kinh doanh

Để việc so sánh và quản trị được tốt hơn, theo IFRSs, lãi hoạt động kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thường của DN, nó không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính. Chi phí tài chính theo thông lệ quốc tế chỉ đơn giản là chi phí lãi vay và các chi phí trực tiếp liên quan đến vay tiền bao gồm cả việc lãi lỗ do thay đổi tỷ giá ngoại tệ phát sinh từ việc vay tiền như một khoản chi phí lãi vay. Các chi phí khác và thu nhập khác theo IAS bao gồm như bất động sản đầu tư theo mô hình giá trị hợp lý, các khoản chênh lệch giá trị hợp lý cuối kỳ so với đầu kỳ được ghi nhận là lãi lỗ trong báo cáo tài chính kỳ đó. Theo VAS, chỉ áp dụng phương pháp giá gốc trừ đi khấu hao lũy kế. Do vậy, không có khoản lãi, lỗ này phát sinh. Trường hợp tài sản cố định được chính phủ cho tặng, theo IAS, DN chỉ được ghi nhận như một khoản thu nhập trong các kỳ liên quan để phù hợp với các chi phí liên quan (khấu hao) mà chúng được nhận để bù đắp. Theo VAS, nó được ghi nhận toàn bộ thu nhập vào kỳ nhận được tài sản.

Theo IAS, lãi dùng để tính EPS cơ bản là lãi thuần thuộc các cổ đông. Nó không bao gồm các khoản lãi, nhưng được dùng để chia cho nhân viên hay đối tượng khác như quỹ khen thưởng, phúc lợi. VAS không trừ các quỹ này nên rất nhiều tình huống EPS tính theo VAS cao hơn theo IAS khá nhiều thông thường từ 5 – 15%, cá biệt có thể lên đến 30%. Theo IAS, EPS pha loãng và EPS cơ bản phải được trình bày trên bề mặt và nổi bật như nhau trên báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay VAS chưa có thông tư hướng dẫn chi tiết, nên các DN vẫn không báo cáo EPS pha loãng trên báo cáo kết quả kinh doanh. Trường hợp chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS chưa quy định việc điều chỉnh hồi tố EPS. Trong trường hợp đó, việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số liệu EPS gốc (không điều chỉnh) sẽ bị sai lệnh rất nghiêm trọng.

Theo IAS 27, các báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập cho các báo cáo tài chính năm và các báo cáo tài chính tạm thời giữa niên độ. Tuy nhiên, theo VAS, việc lập báo cáo tài chính hợp nhất chỉ bắt buộc đối với báo cáo năm, các báo cáo giữa niên độ chỉ mang tính khuyến khích. Điều này có nghĩa là báo cáo tài chính giữa niên độ có thể không đầy đủ và thiếu chính xác. Đây là một lỗ hổng lớn mà các nhà tạo lập chế độ kế toán phải nhanh chóng chỉnh sửa, tránh những hậu quả lớn cho các nhà đầu tư mà hiện nay họ đang phải gánh chịu. Báo cáo hợp nhất với các công ty liên doanh, theo IAS, các doanh nghiệp nên sử dụng phương pháp hợp nhất tương ứng tuy nhiên có thể sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu. VAS chỉ quy định phương pháp vốn chủ sở hữu.

So sánh báo cáo lưu chuyển tiền tệ

VAS và thông tư hướng dẫn cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là lấy từ sổ quỹ tiền mặt và sổ cái tiền gửi ngân hàng tương ứng với các tài khoản đối ứng. Theo thông lệ quốc tế, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) chỉ căn cứ thuần túy các số liệu trên bảng cân đối kế toán số đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và có thể có thêm một vài thông tin từ sổ cái) sau đó làm các động tác điều chỉnh là ra các chỉ tiêu trên báo cáo LCTT.

VAS hướng dẫn cách lập báo cáo LCTT theo phương pháp gián tiếp bắt đầu từ lãi trước thuế cộng trừ các khoản điều chỉnh trong đó có chênh lệch các khoản phải trả. Mặc dù trong quy định về báo cáo đã yêu cầu các khoản phải trả này không bao gồm các khoản phải trả liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, do Tài khoản 331 Phải trả cho người bán bao gồm các khoản phải trả thương mại do mua hàng hóa, nguyên liệu cho sản xuất và phải trả cho việc mua sắm tài sản cố định hay mua khác. Khi lập báo cáo LCTT, kế toán viên chỉ lấy số dư cuối kỳ trừ số dư đầu kỳ của Tài khoản 331 này. Do vậy nó làm cho dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lẫn lộn với dòng tiền từ hoạt động đầu tư.

Nguồn: Ke toan thuc te

Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)

Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế (International Financial Reporting Standards – IFRS) là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán thống nhất trong công tác lập BCTC.

Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)TS. Trần Mạnh Dũng (CPA) – Đại học KTQD

Ths. Đào Mạnh Huy – Đại học Lao động Xã hội
Th.s. Nguyễn Thị Thanh Diệp – Đại học KTQD

IFRS được biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập BCTC. Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin liên quan đến thị trường vốn. Cơ quan nhà nước có thể sử dụng BCTC như công cụ điều hành các hoạt động kinh tế. Tuy nhiện, BCTC được lập chủ yếu phục vụ cho mục đích của nhà đầu tư chứ không phải cho Chính phủ.

Năm 2005 đánh dấu việc ban hành đầy đủ IFRS cho thị trường vốn trên thế giới. Căn cứ vào IFRS, các quốc gia trên thế giới đã ban hành Chuẩn mực lập BCTC phù hợp với từng quốc gia và nhiều quốc gia đã chính thức áp dụng từ 1/1/2005 như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu …

Chủ đề về áp dụng IFRS tại các nước trên thế giới có tầm quan trọng đặc biệt khi mà các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán lập BCTC hợp nhất theo IFRS từ năm 2005, năm đầu tiên áp dụng IFRS. Việc áp dụng IFRS của các nước trên thế giới được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Tuy nhiên trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, nhiều tồn tại, vướng mắc đã bộc lộ trong quá trình áp dụng Hệ thống chuẩn mực này.

Từ thực tiễn trên, nhiều nghiên cứu khác nhau về tính khả thi trong việc áp dụng IFRS trong năm đầu tiên áp dụng. Một số kinh nghiệm được đưa ra liên quan đến việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Châu Âu, Úc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông, New Zealand bao gồm:

1. Tính phức tạp của chuẩn mực

Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đánh giá quá thấp tính phức tạp, sự ảnh hưởng và chi phí khi áp dụng IFRS. Mặc dù, hầu hết các công ty đã bắt đầu quá trình chuyển đổi trước đó, nhưng trên thực tế khi lập BCTC theo IFRS đã mất nhiều thời gian hơn dự định ban đầu. Có tình trạng đó là khi áp dụng IFRS hàng loạt vấn đề đặt ra và cần phải có sự xét đoán mang tính chủ quan để quyết định đến trị số của các chỉ tiêu trên BCTC.

Trên thực tế, có nhiều vấn đề được coi là rất khó khăn trong việc áp dụng như chuẩn mực kế toán về các công cụ tài chính bao gồm cả các nghiệp vụ phái sinh và kế toán phòng ngừa rủi ro; kế toán theo phương pháp mua, bao gồm cả sự nhận dạng và đo lường tài sản vô hình tách biệt, kiểm tra giảm giá trị của tài sản … Khi kiểm toán viên nhận được BCTC dự thảo mà doanh nghiệp cho là tuân thủ IFRS thì có tới hàng trăm sai sót với mức độ khác nhau cần phải được sửa chữa trước khi phát hành BCTC chính thức để phục vụ cho hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán.
2. Sự trợ giúp của kiểm toán viên

Để có được BCTC tuân thủ theo IFRS thì cần nhiều đến sự trợ giúp của các kiểm toán viên. Sở dĩ yêu cầu này được đặt ra là do các điều khoản trong IFRS rất phức tạp, trong khi đó các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thiếu sự tinh thông đối với IFRS. Vì lý do này, sự trợ giúp của kiểm toán viên là rất quan trọng. Việc trợ giúp này liên quan đến các hợp đồng tư vấn về công tác kế toán và lập BCTC cho các doanh nghiệp. Tương tự như vậy là sự tư vấn và các bút toán điều chỉnh được kiểm toán viên đưa ra trong quá trình kiểm toán. Qua đó, nếu BCTC được điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên sẽ phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền và tất nhiên BCTC tuân thủ theo IFRS.

3. Tính có thể so sánh

Việc áp dụng IFRS dẫn đến tăng khả năng so sánh của các chỉ tiêu trên BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thực tế rất đa dạng và vẫn còn tồn tại trên BCTC hợp nhất năm 2005, do có quá nhiều giả thiết mang tính chủ quan tồn tại trong các chuẩn mực của IFRS. Vì vậy BCTC được lập với nhiều giả định khác nhau tùy theo từng công ty, việc đánh giá xem tính hợp lý của các giả định cũng như tính tuân thủ theo IFRS là công việc không hoàn toàn đơn giản.

Tính có thể so sánh của các thông tin trên BCTC gặp trở ngại lớn do thiếu sự thống nhất về một số nội dung trong biểu mẫu BCTC. Ví dụ, một số công ty phân loại tài sản theo ngắn hạn và dài hạn trong khi một số khác lại không phân loại như vậy; Một số công ty sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở đầu bảng cân đối kế toán trong khi một số công ty khác lại sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở cuối bảng cân đối kế toán. Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng vậy, sự sắp xếp trình bày không giống nhau sẽ làm khó khăn hơn trong việc so sánh các thông tin.

4. Phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng

Sự khác biệt quan trọng giữa các công ty mà không thể nhận thấy được từ BCTC sẽ nảy sinh như là kết quả của phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng. Một trong những sự chuyển biến sâu sắc nhất trong kế toán khi áp dụng IFRS là sự chuyển hướng nhiều hơn đến kế toán giá trị hợp lý bao gồm phương pháp giảm giá trị của tài sản, lợi thế thương mại và tài sản cố định vô hình. Điều này liên quan đến ước tính chủ quan luồng tiền trong tương lai. Nhiều ước tính được thực hiện dựa trên các giả định không rõ ràng, đôi khi không hợp lý sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác nhau và thậm chí có sự chênh lệch lớn giữa các kết quả đó.

5. Tính rõ ràng và ổn định

IFRS được cho là quá phức tạp, thậm chí phức tạp đối với cả kiểm toán viên và các chuyên gia về tài chính kế toán. Đối với hầu hết những người sử dụng BCTC, không đơn giản và dễ dàng để hiểu được thấu đáo các thông tin kế toán và chính sách kế toán trên BCTC.

IFRS cũng được cho là không rõ ràng và không ổn định. Điều này làm giảm sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào thị trường vốn. Sự minh họa rõ nét nhất là trong giải thích của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế về IAS 27 “BCTC hợp nhất và riêng biệt” rằng yêu cầu hợp nhất khi có sự kiểm soát tồn tại. Tuy nhiên, không một công ty kiểm toán nào trong 4 công ty kiểm toán lớn (Big 4) đạt được kết luận đó. Dường như các tuyên bố đáng ngạc nhiên cũng tăng thêm tính không ổn định của IFRS. Hay như chuẩn mực các công cụ tài chính chưa thực sự rõ ràng và đôi khi còn khó hiểu vì sự đa dạng của công cụ tài chính tồn tại và đặc tính thay đổi của thị trường tài chính.

6. Giảm giá trị của lợi thế thương mại

Chuẩn mực yêu cầu ước tính giá trị có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền mà lợi thế thương mại phân bổ cho các đơn vị tạo tiền đó. Cũng theo quy định của Chuẩn mực, giá trị có thể thu hồi thường được xác định theo phương pháp giá trị sử dụng và nó được tính toán như là giá trị hiện tại của luồng tiền trong tương lai. Điều này hoàn toàn mang tính chủ quan, cho nên với các giả định khác nhau thì sẽ có nhiều kết quả khác nhau. Hoàn toàn không đơn giản để xác định kết quả nào tốt nhất vì thực chất không có thị trường cho lợi thế thương mại. Đối với các kiểm toán viên cũng vậy, không đơn giản để xác định sự liên quan giữa tính hợp lý của các giả định đến mô hình chiết khấu luồng tiền như tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ tăng trưởng, giá trị luồng tiền trong tương lai, thời kỳ dự đoán và giá trị còn lại. Chính vì vậy đánh giá tính hợp lý của các giả định là việc làm rất phức tạp.

7. Trình bày các thông tin trên Báo cáo tài chính

Việc trình bày các thông tin theo IFRS dựa trên nguyên tắc trọng yếu. Vấn đề khó khăn đối với việc trình bày là áp dụng khái niệm trọng yếu. Về lý thuyết, trọng yếu là khái niệm chỉ quy mô (mặt lượng) và tính hệ trọng (mặt chất) của các thông tin. Tuy nhiên, các trình bày không mang tính trọng yếu tràn ngập thông tin tài chính trên BCTC làm giảm chất lượng của BCTC. Nhưng khi xét mức trọng yếu đối với việc trình bày thì chủ yếu xét theo định tính chứ không mang tính định lượng. Do vậy càng rất khó xác định nếu không có hướng đi cụ thể. Trọng yếu của việc trình bày trong BCTC là những sai phạm trong trình bày có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Tuy nhiên trên thực tế người lập BCTC lại biết quá ít về quá trình đưa ra quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC.

Tóm lại, thực hiện theo IFRS thực sự là một thách thức. Tất cả các bên liên quan, doanh nghiệp, kiểm toán viên, các nhà ban hành chính sách phải xác định đây là vấn đề thực sự quan trọng. Việc thực hiện theo IFRS được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Trong thời kỳ đầu áp dụng IFRS, quả là rất khó khăn cho những người lập BCTC vì tính đa dạng, phức tạp và không hoàn toàn rõ ràng của IFRS. Tuy nhiên, nếu tuân thủ theo IFRS, khối lượng khổng lồ về thông tin tài chính kế toán sẽ được phản ánh trên BCTC, mọi khía cạnh trọng yếu về tính hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền, chính sách kế toán và các giả định áp dụng sẽ được phản ánh đầy đủ. Người được lợi nhất chính là những người sử dụng BCTC khi đơn vị áp dụng theo IFRS; qua đó họ có đầy đủ các thông tin cần thiết để xem xét trong việc đưa ra quyết định kinh tế của mình.

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Carlin, T. M. & Finch, N., (2007), “Towards A Theory of Goodwill Impairment Testing Choices Under IFRS”, The Journal of Theoretical Accounting Research, vol. 3, iss. 1, pp. 74-95.


  1. E&Y, (2008a), International GAAP 2008, Generally Accounting Practice under International Financial Reporting Standards. John Wiley and Sons.


  1. HKICPA, (2006), Comparison between HK Financial Reporting Standards and International Financial Reporting Standards as at 1 August 2006. HKICPA.


  1. Lonergan, W., (2007), “AIFRS – A Practitioner’s Viewpoint”, The Journal of Applied Research in Accounting and Finance, vol. 2, iss. 1, pp. 9-19.
  1. Trần, D. M., (7/2009), “Giới thiệu Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, iss. 21, pp. 27-28.
  1. Trần, D. M., (9/2009), “Sự biến động về tỷ lệ chiết khấu – Hành vi cơ hội trong kiểm soát chi phí và lợi nhuận”, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, iss. 147, pp. 45-49.
  1. Trần, D. M., (2009), “Giảm giá trị của Lợi thế thương mại – Tính hợp lý của việc trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính theo phương pháp giá trị hợp lý của Chuẩn mực Kế toán Hồng Kông số 36 (HKAS)”, Tạp chí Khoa học Thương mại, vol. iss. 32.


  1. Trần, D. M., (9/2010), “Giảm giá trị của tài sản và sự ảo tưởng về giá trị thực của các tài sản trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, iss. 35, pp. 19-21.


SourceTạp chí Kinh tế & Phát triển, số 165 (II), Tháng 3/2011.

Những sai sót cần tránh trong công tác Kế Toán – Tài Chính

Làm công tác kế toán như nuôi con mọn, mỗi nghiệp vụ, mỗi quá trình đều cần tới các thủ tục giấy tờ mà nhiều khi người thực hiện không để ý tới hoặc không lường trước, Một sai sót dù rất nhỏ cũng có thể dẫn đến nhiều phiền phức cho doanh nghiệp, thậm chí có thể tiềm ẩn hậu quả rất lớn, bài viết này xin giới thiệu tới bạn đọc những sai sót nho nhỏ cần tránh khi thực hiện tác nghiệp hoặc hoàn thiện các thủ tục chứng từ kế toán.
accountant-tax
Khi mua hoá đơn :
♦ Giấy giới thiệu (GGT)
• Không ghi rõ đến cơ quan thuế để mua hoá đơn (chỉ ghi chung chung đến liên hệ công tác…)
• Các chỉ tiêu như số giấy giới thiệu, ngày, họ tên và chức vụ người được cử đi, tên chữ ký của người ĐDPL, đóng đấu …… không rõ ràng. Nhân viên đến mua hoá đơn :
–  Không mang theo CMND.( Người được giới thiệu )
–  Khi gần hết giờ hành chánh mới đến liên hệ mua hoá đơn .
–  Cử người không hiểu biết về hoá đơn chứng từ (như bảo vệ, tạp vụ, nhân viên trực điện thoại…) đi mua hoá đơn .
–  Không đem theo Phiếu theo dõi tình hình cấp phát hóa đơn ,
–  Không lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn ở ký gần nhất .
–  Chưa chuẩn bị con dấu khắc Tên DN , Mã số thuế ) để đóng trên liên 2 Sử dụng hoá đơn :
Khi mua hàng : Không nhận hoá đơn tại nơi xuất hàng mà nhận hoá đơn do người bán đem đến (dễ bị nhận hoá đơn giả).
Khi xuất hàng :
• Không xuất hoá đơn GTGT đối với Hàng hóa Xuất khẩu ,
• Không xuất hoá đơn đối với doanh thu hàng uỷ thác xuất khẩu.
• Không lót giấy carbon giữa các liên.
• Thiếu chữ ký người mua trên hoá đơn.
• Không ghi thuế suất thuế GTGT . Báo cáo sử dụng hoá đơn : Không lập báo cáo sử dụng hoá đơn theo định kỳ.( Tháng , Quý , Năm ) Các bảng kê hoá đơn bán ra, mua vào
• Ghi không đầy đủ cột mục theo qui định.
• Cột ngày chứng từ ghi không theo đúng định dạng 30/01/2002 (ghi sai là 01/30/2002 hoặc 30-Jan-02, 2002-01-30 v.v..)
• Trong bảng kê HHDV bán ra không ghi đúng thứ tự số hoá đơn đã sử dụng, không kê hoá đơn đã huỹ vào bảng kê, đồng thời cũng dễ bị kê khai trùng nhiều lần cho cùng một hoá đơn.
• Không lập bảng kê riêng đối với hàng hoá bán ra không chịu thuế GTGT (như hàng đại lý bán đúng giá)
• Trong bảng kê hoá đơn mua vào không lập bảng kê riêng đối với những hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất, hàng không chịu thuế GTGT.
Kê khai thuế :
♦ Kê khai thuế GTGT hàng tháng
• Thiếu chỉ tiêu 5 (dòng thuế GTGT được khấu trừ)
• Nhầm lẫn giữa các dòng làm sai lệch nội dung của tờ khai.
• Nhân viên kế toán làm cho nhiều công ty khác nhau, khi lập tờ khai bằng máy tính quên thay đổi mã số thuế, tên công ty, địa chỉ …. của công ty.
• Gộp doanh thu và thuế đầu ra của nhiều thuế suất ghi chung vào một dòng
• Không tính gộp cả doanh thu của HHDV không chịu thuế GTGT vào chỉ tiêu 1.
• Cấn trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế GTGT chưa nộp của kỳ trước.
• Tính vào số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá nhập khẩu theo thông báo của Hải Quan, trong khi chưa nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu đó.
• Kê khai khấu trừ 3% đối với hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuếtiêu thụ đặc biệt nhưng mua về không phải để bán ra.
• Không tách riêng bảng kê Hàng hóa dịch vụ mua vào có hóa đơn bán hàng được khấu trừ tỷ lệ 3% . Kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng tháng đã chặn trừ tại nguồn :
• Hàng tháng đã chặn trừ thuế thu nhập của người lao động nhưng chiếm dụng không kê khai và nộp vào ngân sách kịp thời đúng theo qui định của pháp lệnh thuế thu nhập.
• Những đơn vị có nộp thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài, không lập riêng tờ khai hoặc đã kê khai lẫn lôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài.
♦ Kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp hàng năm :
• Không chủ động kê khai đúng thời gian theo qui định của Luật thuế, bị cơ quan thuế nhắc nhở, xử phạt hành chính.
• Đơn vị tính: Nội dung số liệu không tương ứng với đơn vị tính đã ghi bên trên biểu mẫu.
• Không ghi đầy đủ các khoản chi phí theo đúng mẫu qui định.
♦ Quyết toán thuế GTGT năm
• Dòng thuế phải nộp ghi tổng số thuế đầu ra, và dòng thuế đã nộp ghi tổng thuế GTGT đầu vào.
• Dòng thuế đã nộp năm quyết toán : Ghi sai là số đã nộp cho năm báo cáo (bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không phân biệt nộp cho năm báo cáo hay truy nộp cho các năm trước).
Hồ sơ báo cáo quyết toán thuế :
• Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ. – Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương không có người ký nhận.
• Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).
• Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế được miễn giảm.
Nộp thuế :
• Ghi nhầm tên người nộp là tên cá nhân đi nộp tiền ( Phải ghi tên pháp nhân Doanh nghiệp ).
• Không nắm rõ các qui định về thời hạn nộp thuế của từng sắc thuế để chủ động nộp trước ngày hết hạn, bị cơ quan thuế nhắc nộp và bị phạt nộp chậm.
• Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước : Không ghi rõ tài khoản của cơ quan thuế trên giấy nộp tiền, thiếu quan tâm ý nghĩa của những mã hiệu mục lục ngân sách nhà nước có liên quan (cấp, chương, loại, khoản, muc, tiểu mục) để ghi cho đúng.
• Khi phát sinh khoản phải nộp (không thuộc các loại thuế thông thường) đã không lập tờ khai nộp cho cơ quanthuế.
Hạch toán kế toán
• Ngay sau khi lập đề nghị hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp đã không hạch toán làm giảm số dư nợ, không hạch toán đồng thời vào tài khoản phải thu phải trã, mà vẫn để số thuế nầy được tiếp tục khấu trừ cho kỳ sau.
• Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt… của cơ quan thuế, doanh nghiệp không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với số liệu của cả cơ quan thuế.
• Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính : Định kỳ hàng tháng không in ra toàn bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai.
Đăng ký thuế: Thay đổi kế toán trưởng, địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, fax, e-mail…. không đăng ký với cơ quan thuế.
Hoàn thuế GTGT
Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu :
• Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.
• Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .
• Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan .
Văn thư đề nghị hoàn thuế (mẫu 10/GTGT) không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được hoàn thuế (xuất khẩu hay âm luỹ kế 3 tháng v.v…).
Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng tháng (phải điều chỉnh lại số liệu đã kê khai nhầm trước khi lập hồ sơ hoàn thuế).
Phó giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký tên vào văn thư đề nghị hoàn thuế GTGT không được xem là hợp lệ.
Tài khoản đề nghị chuyển số tiền thuế GTGT được hoàn không đúng với số hiệu tài khoản và tên ngân hàng đã đăng ký thuế.
Nguồn saga.com.vn

Công ty Kiểm Toán nào lớn nhất?

Thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) vừa hoàn thành việc tổng hợp và lập “Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động năm 2012 và phương hướng hoạt động năm 2013 của các công ty kiểm toán” trong cả nước.

Theo số liệu báo cáo, 10 công ty kiểm toán lớn nhất năm 2012 theo từng chỉ tiêu như sau:

1-300x225 2-300x225 3-300x225 4-300x225

 

Bill Gate – Con người vĩ đại của ngành công nghệ

Nhắc đến Bill Gates, người ta đều nghĩ ngay đến hình ảnh tỷ phú “lắm tiền nhiều của” và một doanh nhân thành đạt. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rằng, để có được thành công như ngày hôm nay, người đàn ông ấy đã phải nỗ lực hết mình với những suy nghĩ táo bạo.
Bill Gates sinh ra trong một gia đình khá giả, bố là một luật sư có tiếng, mẹ thuộc ban giám đốc của một công ty tài chính lớn, từ sớm ông đã bộc lộ niềm say mê các mô hình máy tính sơ khai nhất, thắp sáng lên sở thích rõ rệt, những sở thích mà sau này đã làm rạng rỡ tên ông.
Gates luôn tự quyết định làm mọi thứ, kể cả việc theo đuổi lĩnh vực lập trình máy tính thay vì đăng ký những môn học thông thường. Ông bắt đầu xây dựng công ty phần mềm khi mới 17 tuổi.
Cancer Research UK
Ngay từ khi mới thành lập công ty phần mềm, Bill Gates đã đặt ra mục tiêu biến công ty nhỏ thành gã khổng lồ nổi tiếng trong làng công nghệ thế giới. Hướng tới mục tiêu đó, Gates luôn nỗ lực vươn lên, không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng và những thông tin hữu ích cho công việc và bản thân để đạt được chiến lược đã đề ra.
Dù học khá nhưng ngay từ khi còn rất trẻ, Gates đã nhận thấy trường học không phải là nơi dành cho mình. Năm 20 tuổi, ông rời bỏ sự nghiệp học hành ngay tại Harvard và bắt đầu sáng lập nên Microsoft.
Gates hiểu rằng, đam mê và thành công luôn đi cùng nhau, miễn sao chúng ta biết nắm bắt thời cơ và dũng cảm đặt chân trên con đường mới. Tất nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ điều này và không phải lúc nào cũng đúng với tất cả mọi người. Sự nghiệp học hành cũng có những lợi thế riêng và trước khi thôi học, bạn cần cân nhắc kỹ đến hậu quả. Bill Gates đã đi ngược với truyền thống và đã thành công trên con đường đã chọn.
Bill Gates Dũng cảm theo đuổi đam mê
Gates ngày càng thành công vì ông không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Dù trở thành tỷ phú khi mới 38 tuổi nhưng ông vẫn không ngừng nỗ lực, sáng tạo với tham vọng kiếm nhiều tiền hơn nữa trong tương lai.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Gates đã rất thành công khi theo đuổi những niềm đam mê của mình, từ sở thích lập trình cơ bản đến trở thành một nhà từ thiện. Gates không bao giờ làm những việc mà ông không tin tưởng sẽ thành công. Ông hiểu rõ bản thân mình muốn gì và cần phải làm gì để đạt được thành công.